Phỏng vấn bởi Mona Simpson, Lewis Buzbee.
Raymond Carver sống trong một căn nhà lớn, hai giang, mái gỗ trên một con đường yên tĩnh ở Syracuse, New York. Bãi cỏ trước nhà trải dài xuống đến vỉa hè. Một con Mercedes mới đậu ở lối đi. Một con VW, chiếc ô tô gia đình khác, cũ hơn, đậu ngay trên đường.
Lối vào nhà thông qua một mái hiên lớn, có mái che. Bên trong, nội thất không có gì đặc trưng. Đồ đạc chỉ vừa khớp với nhau – chiếc đi-văng màu kem, một chiếc bàn cà phê bằng kính. Nhà văn Tess Gallagher, người sống cùng với Raymond Carver, sưu tầm những chiếc lông công và trưng chúng trong những chiếc bình đặt khắp căn nhà – chúng dường như chính là những nỗ lực trang trí duy nhất trong nhà. Đối với sự hiếu kỳ của chúng tôi về cách bài trí này, Carver lập tức giải đáp, tất cả nội thất đều được mua và giao đến trong một ngày.
Gallaghter đã vẽ một chiếc bảng gỗ “No Visitors” (Không tiếp khách) có thể tháo rời, với những chữ cái được viền lông mi màu vàng và cam, treo trên cửa lưới. Đôi khi điện thoại sẽ bị tháo dây và tấm bảng ấy được treo lên trong nhiều ngày.
Carver làm việc trong một căn phòng lớn ở tầng trên cùng. Chiếc bàn làm việc dài bằng gỗ sồi, mặt bàn sạch sẽ, chiếc máy đánh chữ được đặt ở bên cạnh, ở phần biên chữ L. Không có đồ lặt vặt, bùa chú, hay bất cứ loại đồ chơi nào trên bàn của Carver cả. Ông không phải là người thích sưu tầm đồ đạc, cũng không phải là một người muốn sống với những điều đã cũ, không đồ lưu niệm cũng không hoài niệm. Thỉnh thoảng, chỉ có một tập hồ sơ bằng giấy manila với một truyện chưa hoàn tất được đặt trên chiếc bàn gỗ sồi ấy. Hồ sơ của ông được lưu trữ theo thứ tự cẩn thận. Do vậy mà ông dễ dàng lấy ra một truyện với tất cả các phiên bản của nó chỉ trong giây lát. Các bức tường của căn phòng này được sơn màu trắng, giống với hầu hết các bức tường khác trong nhà, và giống như các bức tường khác trong ngôi nhà, chúng cũng trống trơn. Ánh sáng rọi vào căn phòng theo từng chùm xuyên qua ô của sổ hình chữ nhật cao phía trên chiếc bàn làm việc, tựa như thứ ánh sáng huyền diệu rơi xuống từ những ô cửa sổ trên cao của một nhà nhờ vậy.
Carver trông cao lớn, phục trang đơn giản – áo sơ mi vải fla-nen, quần kaki hoặc jean. Ông dường như sống và ăn bận như những nhân vật trong những câu chuyện của ông. So với khổ người của ông thì giọng của ông lại trầm và không mấy rõ ràng; chúng tôi cứ phải chúi người gần đến ông để có thể nghe được lời ông nói, rồi lại phải lặp đi lặp lại “Cái gì, cái gì cơ?”
Các phần của cuộc phỏng vấn được thực hiện qua thư, trong suốt từ năm 1981 – 1982. Khi chúng tôi gặp Carver, tấm bảng “No visitors” đã được hạ xuống và một vài sinh viên ở Syracuse cũng ghé thăm ông, còn có con trai của ông, đang là sinh viên năm cuối ghé qua. Đến trưa, Carver thết chúng tôi món sandwiches với cá hồi mà ông bắt được ở ngoài khơi Washington. Cả ông và Gallagher đều đến từ bang Washington và thời điểm chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn, họ còn có một căn nhà ở Port Angeles, nơi họ dự định đến ở định kỳ mỗi năm. Chúng tôi hỏi ông, có phải ngôi nhà ấy mang đến cho ông cảm giác về một mái ấm hơn. Ông đáp “Không, tôi ở đâu cũng được. Mọi thứ đều ổn cả.”
Người phỏng vấn: Giai đoạn đầu cuộc sống của ông như thế nào, và điều gì khiến ông muốn viết?
Raymond Carver: Tôi lớn lên trong một thị trấn nhỏ ở đông Washington, gọi là Yakima. Bố tôi làm việc trong một xưởng cưa ở đó. Ông là thợ cưa và ông bảo dưỡng các lưỡi cưa dùng để cắt và mài những khối gỗ. Mẹ tôi làm các công việc như nhân viên bán hàng ở tiệm tạp hóa, hoặc là phục vụ hoặc là chỉ ở nhà, mà bà không làm một việc gì quá lâu đâu. Tôi nhớ có từng nói chuyện về “dũng khí” của bà. Trong hộc tủ dưới bồn rửa trong bếp, bà cất một chai “thuốc dũng khí” và mỗi sáng bà sẽ dùng một vài muỗng. Thuốc dũng khí của cha tôi là rượu whiskey. Thường thì ông cũng trữ một chai ở cùng hộc tủ với mẹ, hoặc là ở bên ngoài, trong kho củi. Tôi nhớ tôi từng lén nếm thử nó một lần và thấy ghét nó ngay, và cứ tự hỏi sao người ta lại có thể uống cái thứ này chứ. Nhà là một ngôi nhà nhỏ hai phòng ngủ. Chúng tôi chuyển nhà khá nhiều khi tôi còn nhỏ, nhưng lúc nào cũng là một căn nhà nhỏ hai phòng ngủ. Căn nhà đầu tiên tôi còn nhớ, nằm gần một bãi đất trống ở Yakima, có một nhà vệ sinh ngoài trời. Lúc này là khoảng vào cuối những năm 40. Tôi tám hay mười tuổi gì đó. Tôi thường ở trạm xe buýt đợi bố tôi đi làm về. Thường thì ông đều đặn như chiếc đồng hồ vậy. Nhưng mỗi hai tuần hoặc tầm đó, ông không có trên xe buýt. Tôi sẽ quanh quẩn ở gần đó và đợi chuyến xe buýt tiếp theo, nhưng mà tôi thừa biết rằng ông cũng sẽ không có trên chuyến xe buýt tiếp theo ấy. Lúc này, ông hẳn đang đi uống với những người bạn ở xưởng cưa. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác nặng nề và vô vọng phủ lấy chiếc bàn ăn khi ấy, khi chỉ có mẹ, tôi và đứa em ngồi đó dùng bữa.
Người phỏng vấn: Nhưng điều gì khiến ông muốn viết?
Raymond Carver: Lý giải duy nhất tôi có thể đưa ra là vì bố của tôi đã kể rất nhiều chuyện về tuổi thơ của ông, về bố của ông, về cả ông nội của ông cho tôi nghe. Ông nội của ông là chiến sĩ trong cuộc Nội chiến (Civil War). Ông chiến đấu cho cả hai bên! Ông là kẻ phản bội, chạy theo phía đối nghịch. Khi phía Nam bắt đầu thua cuộc, ông đã vượt qua phía Bắc và bắt đầu tham gia chiến đấu cho lực lượng liên minh. Bố tôi cười cười kể về chuyện này. Ông không thấy có gì sai trái cả, và tôi đoán, tôi cũng vậy. Dù sao thì, bố tôi đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện, những chuyện vặt thực sự, không có bài học đạo đức gì trong đó, về việc lang thang trong những khu rừng, hoặc là đi chui tàu hỏa và phải canh chừng cảnh sát đường sắt. Tôi thích ngồi cùng ông và nghe ông kể những chuyện này. Đôi khi ông sẽ đọc cho tôi nghe vài thứ mà ông đang đọc. Các truyện cao bồi, viễn Tây của Zane Grey. Đây là những cuốn sách bìa cứng thật sự đầu tiên mà tôi thấy, ngoài những cuốn sách giáo khoa, và Kinh thánh. Dù không xảy ra thường xuyên nhưng bây giờ, tôi lại có thể hình dung ra ông đang nằm trên giường vào buổi tối và đọc Zane Grey. Nó giống như một hoạt động riêng tư nhưng lại không được cho là riêng tư trong nhà. Tôi nhận ra rằng ông dành cho mình phần riêng tư này, dẫu tôi không hiểu hay biết chút gì về những điều này, nhưng những dịp đọc sách này của ông mang lại cảm xúc nhất định. Tôi thích mặt này của ông và thích cả cái hành động nằm đọc này nữa. Tôi sẽ nài ông đọc cho tôi nghe thứ ông đang đọc, và ông sẽ miễn cưỡng đọc ngay khúc ông đang đọc trong cuốn sách. Rồi chỉ chốc lát sau, ông sẽ nói “Nhóc con, đi làm gì khác đi.” Chà, có hàng tá thứ để làm. Trong những ngày đó, tôi đi câu cá chỗ con lạch cách nhà không xa lắm. Sau đó, tôi bắt đầu đi săn vịt và ngỗng và tham gia các trò chơi vùng núi. Những ngày này, săn bắn và đi câu là thứ khiến tôi phấn khích nhất. Những cuộc đi săn và câu cá này tạo nên một dấu hằn rõ nét trong đời sống cảm xúc của tôi và đó cũng là những thứ mà tôi muốn viết về. Những thứ tôi đọc được trong thời gian này, ngoài những tiểu thuyết lịch sử hay những truyện huyễn tưởng của Mickey Spillane, còn có các tờ tạp chí Sports Afield và Outdoor life, và Field & Stream (1). Tôi đã viết một hơi dài về chuyện những con cá đã thoát khỏi lưỡi câu hay những con cá mà tôi bắt được, thứ này hoặc thứ kia, và tôi nhờ mẹ tôi đánh máy chúng lại. Bà không biết đánh máy, nhưng bà đã đi thuê một cái máy đánh chữ, thật may là có bà, và giữa hai người, chúng tôi đánh máy lại bài viết của tôi một cách lộn xộn và gửi nó đi. Tôi nhớ có hai địa chỉ được đề trong phần thông tin của tờ tạp chí dã ngoại; vậy nên chúng tôi đã gửi bài đến văn phòng gần chúng tôi nhất, đến Boulder, Colorado, một cơ sở trung chuyển. Bản thảo cuối cùng bị trả lại, nhưng không sao. Dẫu sao thì bản thảo đó cũng đã được gửi đi – đã có chỗ thích hợp cho nó. Ai đó ngoài mẹ tôi cũng đã đọc nó, hoặc là tôi hi vọng vậy. Sau đó, tôi thấy một mẩu quảng cáo trên tờ Writer’s Digest. Đó là tấm ảnh một người đàn ông, một tác giả nổi tiếng, rõ ràng, đang xác thực cho thứ gì đó gọi là Viện tác giả Palmer. Đây dường như là thứ dành cho tôi. Họ còn có cả kế hoạch thanh toán theo tháng. Giảm hai mươi đô, mười hoặc mười lăm đô một tháng, trong ba năm hoặc ba mươi năm, đại loại vậy. Có bài tập hàng tuần và có người chữa bài tập. Tôi theo học chương trình này khoảng vài tháng. Sau đó, có lẽ là tôi chán đi; tôi ngừng làm bài. Những bằng hữu ngừng thanh toán. Cũng không lâu sau đó, tôi nhận được một bức thư từ viện, báo rằng nếu tôi thanh toán hết cho họ, tôi vẫn có thể lấy được chứng chỉ đã hoàn thành chương trình. Nghe có vẻ ổn. Vậy là tôi nói chuyện với những bằng hữu của mình, nhờ họ thanh toán phần tiền còn lại, và đến kỳ hạn, tôi nhận được tờ chứng chỉ, và treo nó lên trong phòng ngủ. Nhưng trong suốt thời trung học, ai cũng luôn cho rằng tôi sẽ tốt nghiệp rồi đến xưởng cưa làm việc. Trong một khoảng thời gian dài, tôi đã muốn làm kiểu công việc giống như bố tôi. Ông ấy đã hỏi đốc công ở xưởng để tôi vào làm sau tốt nghiệp. Vậy nên tôi đã làm việc ở xưởng khoảng sáu tháng. Nhưng tôi ghét công việc này và ngay từ ngày đầu tiên tôi đã biết tôi không muốn làm công việc này suốt cuộc đời. Tôi làm việc ở đó đủ để mua một chiếc xe, ít quần áo và như thế tôi có thể chuyển ra riêng và cưới vợ.
Người phỏng vấn: Bằng cách nào đó, cho dù là lý do gì, ông đã học cao đẳng. Có phải là vợ ông muốn ông đi học? Có phải bà ấy cổ vũ ông theo đuổi việc học? Hay là bà ấy muốn đi học nên ông cũng muốn đi? Lúc này ông bao nhiêu tuổi vậy? Bà ấy hẳn cũng còn khá trẻ.
Raymond Carver: Tôi mười tám tuổi. Cô ấy mười sáu tuổi và có thai và chỉ vừa tốt nghiệp trường tư Tân giáo cho nữ ở Walla Walla, Washington. Ở trường, cô ấy học cách thưởng trà; cô ấy được truyền giáo, học thể thao, những thứ đại loại vậy, ngoài ra còn học vật lý, văn học và ngoại ngữ nữa. Tôi cực ấn tượng vì cô ấy biết tiếng Latin. Latin đó! Cô ấy cố gắng tiếp tục đi học những năm đầu này, nhưng thật sự là quá khó khăn; thật sự là bất khả thi để vừa đi học vừa nuôi gia đình và sống túng quẫn mọi lúc. Ý của tôi đúng là túng quẫn. Gia đình của cô không có khá giả mấy. Cô ấy có học bổng ở trường đó. Mẹ của cô ghét tôi và bây giờ vẫn vậy. Vợ tôi dự là sẽ tốt nghiệp và tiếp tục học luật ở đại học Washington theo chương trình học bổng. Nhưng mà, tôi khiến cô có thai, chúng tôi kết hôn và bắt đầu cuộc sống cùng nhau. Cô ấy sinh đứa đầu lúc mười bảy tuổi, đứa thứ hai lúc mười tám tuổi. Tôi sẽ nói gì lúc này sao? Chúng tôi không có mấy cái gọi là thanh xuân. Chúng tôi thấy mình phải thực hiện cái vai trò mà chúng tôi nào biết cách phải làm như thế nào. Nhưng mà chúng tôi đã làm tốt nhất có thể. Còn tốt hơn cả tốt nhất, tôi muốn nghĩ như thế. Cô ấy cuối cùng cũng hoàn thành chương trình cao đẳng. Cô ấy có bằng cử nhân ở bang San Jose mười hai hay mười bốn năm sau khi chúng tôi cưới nhau.
Người phỏng vấn: Ông viết trong những năm đầu khó khăn này đúng không?
Raymond Carver: Tôi làm việc buổi tối rồi đi học ban ngày. Chúng tôi làm việc luôn tay. Cô ấy vừa làm việc vừa nuôi dạy hai đứa trẻ và còn quán xuyến việc nhà. Cô ấy làm ở một công ty điện thoại. Ban ngày hai đứa trẻ ở cùng bảo mẫu. Cuối cùng tôi tốt nghiệp bằng cử nhân ở trường cao đẳng bang Humboldt rồi chúng tôi gom hết mọi thứ lên xe và lái đến thành phố Iowa. Một giáo viên ở Humboldt tên Dick Day đã nói với tôi về hội thảo các nhà văn ở Iowa. Day đã gửi một truyện của tôi và ba hay bốn bài thơ đến Don Justice, giúp tôi có một khoản trợ cấp năm trăm đô ở Iowa.
Người phỏng vấn: Năm trăm đô?
Raymond Carver: Đó là mọi thứ họ có rồi, họ nói với tôi như vậy. Khoản đó kể cũng khá nhiều thời điểm này. Nhưng tôi không ở Iowa lâu. Họ đề nghị tăng thêm tiền để tôi ở lại thêm năm thứ hai, nhưng chúng tôi không thể. Tôi làm việc trong một thư viện, lương một hay hai đô một giờ, còn vợ tôi thì làm phục vụ. Thêm một năm nữa để tôi lấy một tấm bằng nữa, nhưng chúng tôi không thể. Vậy nên chúng tôi trở lại California. Lần này là ở Sacramento. Tôi làm người gác đêm ở bệnh viện Mercy. Tôi làm việc này được ba năm. Đây là một công việc tốt. Tôi chỉ phải làm hai hoặc ba giờ một đêm, nhưng họ trả cho tôi tám giờ. Có một số nhiệm vụ phải hoàn thành, và chỉ có vậy – khi tôi hoàn thành công việc tôi có thể về nhà và làm những việc tôi muốn. Năm đầu hoặc năm hai, tôi về nhà hàng đêm, đi ngủ đúng giờ để có thể dậy sớm vào buổi sáng và viết. Hai đứa trẻ tới chỗ bảo mẫu và vợ tôi đi làm – cô làm công việc bán hàng tận nhà. Tôi có cả ngày. Việc này ổn định một thời gian. Thế rồi tôi bắt đầu tan ca nhưng không về nhà, tôi đi uống rượu. Thời gian này khoảng năm 1967 hay 1968.
Người phỏng vấn: Lần đầu tiên tác phẩm của ông được xuất bản là khi nào?
Raymond Carver: Khi tôi còn là một sinh viên chưa tốt nghiệp ở Humboldt ở Arcata, California. Một ngày, một truyện ngắn của tôi được đăng trên một tạp chí, và một bài thơ đăng ở một tạp chí khác. Thật là một ngày tuyệt diệu! Có lẽ là một trong những ngày tuyệt vời nhất. Vợ tôi và tôi lái xe khắp thị trấn và khoe lá thư chấp nhận ấy với tất cả bạn bè của mình. Đó chính là sự công nhận mà chúng tôi đã luôn mong đợi.
Người phỏng vấn: Truyện và bài thơ đầu tiên được xuất bản của ông tên gì?
Raymond Carver: Truyện có tên là “Pastoral” (Đồng quê) và được đăng ở tờ Western Humanities Review. Đây là một tạp chí văn học uy tín và nó vẫn còn được phát hành bởi trường đại học Utah. Họ không trả nhuận bút cho truyện này, nhưng không sao. Bài thơ được gọi là “The Brass Ring” (Chiếc nhẫn đồng) và được đăng bởi tờ tạp chí Targets ở Arizona, giờ đã giải thể. Charles Bukowski cũng có một bài thơ được đăng cùng kỳ này, tôi thật vui khi được đăng cùng với ông như vậy. Ông cũng giống như một người hùng trong tôi vậy.
Người phỏng vấn: Một người bạn của ông kể với tôi rằng ông đã mang tờ báo lên giường ngủ cùng mình luôn, có đúng không?
Raymond Carver: Cũng có phần đúng. Thật ra, đó là một cuốn sách, cuốn tuyển tập Những truyện ngắn Mỹ hay nhất hàng năm. Truyện của tôi, “Em làm ơn im đi, có được không?” xuất hiện trong tuyển tập này. Lúc này là vào những năm sáu mươi, khi tập sách được biên tập mỗi năm bởi Martha Foley và người ta thường gọi nó đơn giản là “Tuyển tập Foley”. Truyện này đã được đăng bởi tờ tạp chí nhỏ mờ nhạt ở Chicago, tên là December. Ngày mà tuyển tập này được gửi đến, tôi đã mang nó lên giường để đọc và xem xét nó kỹ lưỡng, và anh biết mà, cầm tập sách trên tay cho thỏa thích, nhưng mà tôi chỉ thực sự cầm và nhìn ngắm nó thôi chứ không đọc nhiều. Rồi tôi ngủ quên và thức dậy với cuốn sách trên giường, cạnh tôi, cùng với vợ của tôi.
Người phỏng vấn: Trong bài báo ông thực hiện cho tờ The New York Times Book Review ông có đề cập đến một truyện “quá buồn tẻ để nói đến ở đây” – về việc ông chọn viết truyện ngắn thay vì viết tiểu thuyết. Ông có muốn nói về nó lúc này không?
Raymond Carver: Truyện “quá buồn tẻ để nói đến ở đây” có đề cập đến một vài vấn đề nhạy cảm. Tôi có nhắc đến một số vấn đề này trong tiểu luận “Fires”, được đăng bởi tờ Antaeus. Trong đó tôi nói rằng cuối cùng thì, một nhà văn bị phán xét bởi cái mà ông viết, và đó là điều nên làm. Những điều kiện gây ảnh hưởng xung quanh việc viết là những điều khác nữa, những điều không liên quan gì đến văn chương. Không ai đòi hỏi tôi phải trở thành nhà văn. Nhưng thật sự khó khăn để mà vừa sống, thanh toán các khoản chi phí và chi trả các bữa ăn và đồng thời nghĩ về việc trở thành nhà văn và học viết. Sau vài năm làm những công việc tạm bợ và nuôi con cái và cố gắng viết, tôi nhận ra tôi cần phải viết những thứ mà tôi có thể hoàn thành trong thời gian ngắn. Không có khả năng nào tôi lại chọn con đường viết tiểu thuyết, thứ công việc cần hai đến ba năm kéo dài để thực hiện. Tôi cần phải viết những cái có thể thấy ngay kết quả chứ không phải là đợi đến năm sau hay hai ba năm nữa. Do đó, mà là những bài thơ và những truyện ngắn. Tôi bắt đầu nhận thấy cuộc sống của tôi – tôi cho rằng, nó đã không như tôi mong muốn. Luôn luôn có một đống thứ tệ hại phải đối mặt – muốn viết nhưng lại không thể tìm thấy thời gian hay nơi chốn để viết. Tôi thường ra khỏi nhà và ngồi trong xe, kê tập kẹp giấy trên đầu gối và cố gắng viết thứ gì đó. Đây là lúc mấy đứa trẻ đang trong thời kỳ thiếu niên. Tôi đang ở độ tuổi gần hai mấy ba mươi. Chúng tôi vẫn kẹt trong tình cảnh cơ hàn, luôn có một món nợ lớn chực chờ đổ sụp phía sau chúng tôi, và nhiều năm làm việc vất vả nhưng lại chẳng mang lại thành quả gì ngoài một chiếc xe cũ, một căn nhà đi thuê và những chủ nợ mới. Điều này khiến tôi buồn bã; tôi cảm thấy tinh thần mình hoàn toàn sụp đổ. Lúc này, rượu xuất hiện. Tôi hầu như từ bỏ, tôi đầu hàng, và lao đầu vào uống. Đó là phần mà tôi đã nói khi nói về những việc “quá buồn tẻ để mà nói đến ở đây”.
Người phỏng vấn: Ông có thể nói thêm về chuyện uống rượu? Có nhiều nhà văn, dù là họ không nghiện rượu nhưng vẫn cứ uống rất nhiều.
Raymond Carver: Có lẽ là không nhiều hơn bất cứ nhóm chuyên gia nào khác. Anh có thể ngạc nhiên. Dĩ nhiên có một truyền thuyết về chuyện rượu chè, nhưng mà tôi không tin lắm. Tôi chỉ thích uống. Tôi cho rằng tôi sa vào nghiện rượu sau khi tôi nhận thấy mọi điều tôi muốn trong cuộc sống của mình và cả trong sự nghiệp viết lách, và cả vợ và hai đứa con, đều đơn giản là không xảy ra. Thật là kỳ lạ. Anh đâu hề bắt đầu cuộc sống của mình mà hi vọng mình trở thành tên nghèo kiết xác, trở thành bợm rượu và một kẻ lừa dối hay một tên trộm. Hay là một người chuyên nói dối.
Người phỏng vấn: Ông trở thành tất cả những kẻ trên?
Raymond Carver: Đúng vậy. Hiện giờ thì không còn nữa. À, tôi nói dối một ít, lần này đến lần khác, giống tất cả mọi người thôi.
Người phỏng vấn: Ông cai rượu được bao lâu rồi?
Raymond Carver: Từ ngày 2 tháng 6 năm 1977. Nói thật với anh, tôi tự hào về việc tôi bỏ được rượu hơn bất cứ điều gì khác trong cuộc đời mình. Tôi cai được rượu. Tôi luôn thích rượu nhưng không còn uống rượu nữa.
Người phỏng vấn: Ông nghiện rượu đến mức nào?
Raymond Carver: Thật ra tôi vẫn cảm thấy khá đau đớn khi nghĩ về những điều đã xảy ra lúc ấy. Tôi phá hoang mọi thứ tôi chạm đến. Rồi đến tận cùng chẳng còn mấy thứ ở lại. Còn những việc cụ thể sao? Như là, vào một số dịp, có cả cảnh sát, phòng cấp cứu và hầu tòa nữa.
Người phỏng vấn: Làm thể nào ông dừng lại được? Điều gì giúp ông dừng lại?
Raymond Carver: Năm 1977, năm cuối cùng tôi còn uống, tôi ở trong trung tâm cai rượu hai lần, cũng như một bệnh viện, và tôi trải qua vài ngày ở một nơi gọi là DeWitt gần San Jose, California. DeWitt từng là một bệnh viện dành cho tội phạm tâm thần. Ở tột đỉnh của cơn nghiện rượu của mình, tôi hầu như đã mất kiểm soát và giống như ở trong mồ vậy. Hoàn toàn mù mịt, đến mức mà anh không hề nhớ được những điều đã nói hay làm trong một đoạn thời gian nào đó. Anh có thể lái xe, đọc sách, dạy học, bị gãy chân hay lên giường với ai đó, và rồi chẳng nhớ chút gì về chúng. Anh như là đang ở trong một chế độ tự động nào đó. Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh tôi ngồi trên ghế, ly rượu whisky trong tay, đầu quấn băng do bị ngã khi say rượu. Thật điên rồ! Hai tuần sau tôi trở lại trung tâm cai rượu, lần này là ở một nơi gọi là Duffy’s, ở Calistoga, California, tận ở vùng đất của rượu. Tôi ở Duffy’s vào hai dịp khác nhau; ở DeWitt, San Jose; và ở trong một bệnh viện ở San Francisco – khoảng thời gian hình như là mười hai tháng. Tôi đoán mọi thứ đã khá là tồi tệ. Tôi chết chìm trong nó, rõ ràng và đơn giản và tôi không hề phóng đại đâu.
Người phỏng vấn: Điều gì đã khiến ông cai rượu vĩnh viễn?
Raymond Carver: Đó là vào cuối tháng 5 năm 1977. Tôi sống một mình ở căn nhà trong một thị trấn nhỏ ở bắc California, và tôi tỉnh táo được khoảng ba tuần. Tôi lái xe đến San Francisco, ở đó đang có hội nghị của những nhà xuất bản. Fred Hills, lúc đó là tổng biên tập ở McGraw-Hill, muốn mời tôi bữa trưa và trả tiền cho tôi viết một cuốn tiểu thuyết. Nhưng rồi một vài đêm trước bữa trưa ấy, một trong những người bạn của tôi tổ chức tiệc. Khoảng giữa bữa tiệc, tôi cầm lấy một ly rượu và đó là điều cuối cùng tôi có thể nhớ. Giai đoạn mù mịt xảy ra. Buổi sáng tiếp theo khi những cửa hàng mở cửa, tôi đã đứng đợi để mua một chai rượu. Bữa ăn tối hôm ấy là một thảm họa; nó rất kinh khủng, người ta cãi vã, và biến mất khỏi bàn ăn. Và buổi sáng tiếp theo tôi phải thức dậy để đến bữa trưa đã hẹn với Fred Hills. Tôi thức dậy trong tình trạng chếnh choáng và hầu như không thể ngẩng đầu lên được. Nhưng tôi đã uống nửa panh vodka (khoảng 250ml) trước khi tôi gặp Hills và nó giúp tôi chống đỡ một ít. Và sau đó anh ấy lại muốn lái đến Sausalito để ăn trưa! Mất khoảng ít nhất 1 giờ để lái đến nơi với tình trạng kẹt xe lúc đó, và tôi thì vừa say xỉn vừa choáng váng, anh hiểu rồi đó. Nhưng mà vì lí do nào đó, anh ta vẫn tiếp tục và đề nghị trả tiền cho tôi viết một cuốn tiểu thuyết.
Người phỏng vấn: Ông đã từng viết tiểu thuyết đó?
Raymond Carver: Vẫn chưa! Dù sao thì tôi đã sắp xếp rời khỏi San Francisco, trở lại nơi tôi từng sống. Tôi say xỉn thêm một vài ngày nữa. Và sau đó tôi thức dậy, cảm thấy thật kinh khủng, nhưng mà tôi không uống một giọt nào buổi sáng hôm ấy, ý tôi là rượu ấy. Tôi cảm thấy tồi tệ về cả thể chất và tinh thần, nhưng mà tôi đã không đụng đến một chút rượu nào. Tôi không uống khoảng ba ngày, và khi ngày thứ 3 trôi qua, tôi cảm thấy khá hơn. Tôi tiếp tục không uống nữa. Dần dần tôi bắt đầu cách ly mình khỏi những cơn say xỉn. Một tuần. Rồi một tháng. Tôi tỉnh táo trong suốt một tháng, và tôi dần dần bắt đầu cảm thấy khá hơn.
Người phỏng vấn: Tổ chức AA(2) có giúp đỡ gì không?
Raymond Carver: Giúp rất nhiều. Tôi đến các buổi gặp mặt một hoặc thỉnh thoảng hai lần một ngày trong tháng đầu tiên.
Người phỏng vấn: Ông có từng bao giờ cảm thấy rượu mang đến cảm hứng nào đó? Tôi đang nhắc đến bài thơ “Vodka”, được đăng trên tờ Esquire.
Raymond Carver: Lạy Chúa, không đâu! Tôi hi vọng tôi có thể nói rõ điều này. Cheever nhấn mạnh rằng anh có thể nhận ra đâu là “một dòng văn thơ đến từ rượu” trong tác phẩm của một nhà văn. Tôi không chắc chắn chính xác điều anh ấy muốn nói nhưng có lẽ tôi có thể biết được. Khi chúng tôi dạy ở Hội thảo những nhà văn của Iowa vào kỳ học mùa thu năm 1973, anh ấy và tôi không làm gì cả ngoài việc uống. Ý của tôi là, chúng tôi đến lớp học của mình. Nhưng toàn bộ thời gian chúng tôi ở đó, chúng tôi sống trong khách sạn họ sắp xếp trong cơ sở, Nhà Iowa – tôi không nghĩ là bất cứ ai trong chúng tôi từng mở cái máy đánh chữ lên. Chúng tôi lái xe đến tiệm rượu hai lần một tuần bằng xe của tôi.
Người phỏng vấn: Để dự trữ?
Raymond Carver: Vâng, để dự trữ. Nhưng mà phải 10 giờ sáng tiệm rượu mới mở cửa. Một lần chúng tôi quyết làm một chuyến vào sáng sớm, một chuyến lúc 10 giờ, và chúng tôi sẽ gặp nhau ở sảnh khách sạn. Tôi xuống sảnh sớm để hút thuốc còn John thì đi tới đi lui ở tiền sảnh. Anh ấy mang giày da nhưng lại không mang tất. Dù sao thì, chúng tôi ra ngoài sớm một tý. Lúc chúng tôi đến cửa hàng bán rượu, thu ngân cũng chỉ vừa mới mở cửa thôi. Lúc này, John ra khỏi xe trước còn tôi thì tìm chỗ đỗ xe. Khi tôi vào được cửa hàng thì anh ấy đã ở quầy thanh toán với nửa ga-long rượu Scotch (khoảng gần 2 lít – theo cách tính của Mỹ). Anh ấy ở tầng bốn, còn tôi ở tầng hai. Phòng của chúng tôi đều giống nhau, cùng kiểu cách cùng giống cả tranh treo tường. Nhưng khi chúng tôi uống rượu cùng nhau, chúng tôi luôn ở trong phòng của anh ấy. Anh ấy nói rằng anh sợ phải xuống tầng hai uống. Anh ấy nghĩ có khi anh ấy sẽ bị bóp nghẹt bất ngờ trong hành lang mất! Nhưng rồi anh biết đó, sau khi rời khỏi Iowa không lâu, Cheever đã đến trung tâm cai nghiện và giữ được tỉnh táo từ đó cho đến khi anh ấy mất.
Người phỏng vấn: Ông có nghĩ những buổi gặp gỡ trò chuyện ở AA có ảnh hưởng đến văn của ông không?
Raymond Carver: Có hai loại gặp mặt – những buổi diễn thuyết, khi này chỉ có một người đứng lên nói trong khoảng 50 phút về những điều từng xảy ra, hoặc có lẽ đang xảy ra. Và những buổi gặp mặt mà mọi người đều có cơ hội được bày tỏ. Nhưng tôi không thể thành thật thú nhận rằng tôi có từng vô tình hay hữu ý lấy một vài ý tưởng cho những câu chuyện của tôi từ những buổi gặp mặt này.
Người phỏng vấn: Vậy thì, những câu chuyện của ông đến từ đâu? Ý tôi là những câu chuyện có liên quan đến việc say sưa ấy.
Raymond Carver: Những truyện mà tôi thích thường có chỗ liên hệ với thực tế. Dĩ nhiên, không có truyện nào của tôi là từng thật sự xảy ra cả. Nhưng vẫn luôn có một vài thứ, một vài yếu tố, sự kiện xảy ra trong thực tế là nguồn cảm hứng cho tôi. Ví dụ như: “Đó chính là cái Giáng sinh cuối cùng mà anh sẽ hủy hoại vì chúng tôi!” Tôi vẫn nhớ câu này dù lúc đó tôi say bí tỉ. Và sau đó, thật lâu sau ấy, khi tôi tỉnh táo phần nào, đã dùng đúng chỉ câu nói ấy, và tưởng tượng ra một bối cảnh, một câu chuyện có thể đã thật sự xảy ra, và tôi viết nên truyện – “A serious talk” (Một cuộc trò chuyện nghiêm túc). Nhưng mà những tiểu thuyết khiến tôi say mê nhất chính là tiểu thuyết của Tolstoy, Chekhov, Barry Hannah, Richard Ford, Hemingway, Isaac Babel, Ann Beattie, hay Anne tyler, lại là loại tự truyện. Dù chỉ là tham khảo ở mức tối thiểu nhất. Truyện dài hay truyện ngắn đều không phải tự nhiên mà xuất hiện. Tôi chợt nhớ tới một lần có tôi cùng John Cheever thảo luận. Chúng tôi ngồi ở bàn tròn ở Iowa với một vài người khác, và anh ấy đột nhiên nhắc tới rằng sau một cuộc cãi vã trong nhà, đến sáng hôm sau, anh ấy thức dậy và nhìn thấy chữ viết bằng son của cô con gái trên gương trong phòng tắm: “Bố thân yêu, đừng bỏ chúng con.” (―D-e-r-e daddy, don’t leave us.) Một vài người thốt nên lời, “Tôi nhận ra câu này trong truyện của ông.” Cheever đáp: “Có lẽ vậy. Mọi thứ tôi viết chung quy đều là tự truyện mà.” Giờ thì điều đó không còn hoàn toàn đúng. Nhưng mà mọi thứ chúng ta viết, theo cách nào đó, cũng là tự truyện. Tôi cũng không phải đơn phương độc mã hứng thú với tiểu thuyết tự truyện. Ngược lại. Còn có Trên đường. Céline. Roth. Lawrence Durrell trong The Alexandria Quartet. Còn cả Hemingway trong những câu chuyện của Nick Adams. Ngay cả Updike nữa. Jim McConkey. Clark Blaise là nhà văn đương đại mà tiểu thuyết của ông hết lần này đến lần khác đều là tự truyện. Dĩ nhiên anh phải nắm rõ điều mình đang làm khi muốn chuyển chuyện đời mình thành tiểu thuyết. Anh phải cả gan, phải thành thục và giàu trí tưởng tượng và sẵn sàng đón nhận mọi thứ khi kể cho người khác nghe câu chuyện của chính mình. Người ta dạy rằng anh phải viết những điều mình biết rõ, mà có gì anh biết rõ hơn là những bí mật của chính mình? Nhưng nếu như anh không phải là một nhà văn tài năng, việc cố viết hết tập này đến tập khác về cuộc đời mình thật sự là một việc nguy hiểm. Đối với nhiều nhà văn, dùng câu chuyện của chính mình để viết tiểu thuyết thật ra là một cách tiếp cận chứa nhiều nguy cơ, nhưng cũng thật sự đầy lôi cuốn. Một ít tự truyện và thật nhiều tưởng tượng, ấy mới là lựa chọn tốt nhất.
Người phỏng vấn: Các nhân vật của ông vẫn đang muốn thể hiện điều gì đó quan trọng?
Raymond Carver: Tôi nghĩ là họ có. Nhưng cố gắng và thành công là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Một số người, họ luôn thành công; và tôi nghĩ điều này thật tốt. Nhưng cũng có một số người, họ không thành công khi cố gắng thực hiện những điều họ theo đuổi, những điều lớn bé trong cuộc đời họ. Những cuộc đời này, những cuộc đời không thành công ấy thật sự đáng giá để chúng ta viết lại. Theo kinh nghiệm của tôi, trực tiếp hay gián tiếp, phải đối mặt với tình huống thứ hai, cứ cố gắng làm những điều mình muốn, nhưng không thành công. Tôi nghĩ hầu hết nhân vật của mình muốn những hành động của họ có một ý nghĩa nhất định. Nhưng cùng lúc, họ, giống như nhiều người khác cũng nhận thức được rằng, điều này vẫn không thể đạt được. Hành động của họ cũng chẳng thể góp phần tạo nên bất cứ điều gì. Những điều mà bạn từng thấy chúng thật sự quan trọng, thật sự đáng giá để hi sinh vì chúng, hiện giờ lại chẳng đáng bằng một đồng 5 xu. Họ trở nên khó chịu với cuộc sống của họ, họ nhìn thấy cuộc đời họ đổ vỡ. Họ muốn mọi thứ đi đúng như họ dự định, nhưng thực tế nào phải như vậy. Và họ biết điều này, họ chấp nhận và, sau đó, tôi nghĩ họ chỉ cần làm tốt nhất có thể thôi.
Người phỏng vấn: Ông có thể chia sẻ thêm về một trong những truyện yêu thích của tôi trong tuyển tập mới nhất của ông không? Ý tưởng cho truyện “Tại sao em không nhảy?” đến từ đâu vậy?
Raymond Carver: Lúc đó tôi đang đi thăm một vài bạn văn của tôi ở Missoula, tầm khoảng giữa những năm 70. Chúng tôi cùng ngồi uống với nhau và ai đó đã kể một chuyện về một cô gái phục vụ tên Linda, một đêm, cô ấy uống say cùng với bạn trai của cô, cô quyết định chuyển tất cả nội thất trong phòng ngủ của mình ra ngoài sân sau. Họ thực sự làm vậy, họ chuyển mọi thứ, cả thảm, và đèn ngủ, cả cái giường, chiếc bàn nhỏ. Có khoảng bốn hay năm nhà văn trong phòng, thế rồi khi câu chuyện được kể xong, một người mới hỏi “Chà, vậy thì ai sẽ viết chuyện này ra đây?”, tôi không biết còn ai viết chuyện này nữa không, nhưng mà tôi đã viết rồi. Không phải ngay lúc đó, mà là sau này. Khoảng bốn hay năm năm gì đó, tôi nhớ vậy. Dĩ nhiên là tôi có thay đổi và thêm vào một số thứ. Thật sự, đó là truyện đầu tiên tôi viết sau khi cai rượu đấy.
Người phỏng vấn: Thói quen viết của ông như thế nào? Có phải lúc nào ông cũng phải viết truyện?
Raymond Carver: Khi tôi viết, tôi viết mỗi ngày. Đó sẽ là những chuỗi ngày vui vẻ. Một ngày nối tiếp một ngày. Thỉnh thoảng tôi còn không nhận ra được hôm nay là thứ mấy nữa. John Ashbery gọi đó là “vòng quay của ngày qua ngày”. Khi tôi không viết, giống như hiện tại, hay khi tôi bận rộn với nhiệm vụ giảng dạy, giống như mới vừa đây, tôi cảm thấy tôi không viết được một từ, hay là có bất cứ mong muốn được viết nào cả. Tôi rơi vào mấy thói quen xấu. Tôi ngủ trễ và ngủ quá nhiều. Nhưng mà không sao. Tôi học được cách kiên nhẫn và chờ đến thời của mình. Tôi phải học điều đó trong thời gian dài. Kiên nhẫn. Nếu tôi tin vào những dấu hiệu, tôi cho rằng dấu hiệu của tôi có lẽ là dấu hiệu của loài rùa. Tôi viết thất thường. Nhưng khi tôi viết, tôi thường ngồi mài ở bàn viết, mười hay mười hai giờ hay mười lăm giờ một lèo, ngày nối ngày. Tôi thật phấn khởi khi điều đó xảy ra. Hầu hết thời gian làm việc này, chính là để đọc lại và viết lại. Không có nhiều điều khiến tôi thích thú hơn là tay cầm mẩu chuyện của mình, đi quanh nhà một lát và bắt đầu hiệu chỉnh nó. Tương tự như những bài thơ tôi viết. Tôi không vội gửi đi những gì tôi viết, thỉnh thoảng tôi còn giữ chúng trong nhà nhiều tháng liền để chỉnh tới chỉnh lui, bỏ bớt thứ này thêm vào thứ nọ. Bản nháp đầu tiên của một câu chuyện không tốn nhiều thời gian để viết, thường chỉ mất một lần ngồi viết, nhưng việc hiệu chỉnh và tạo thêm nhiều phiên bản khác nhau của câu chuyện mới là việc mất nhiều thời gian. Tôi thường viết từ hai mươi đến ba mươi bản nháp cho một câu chuyện. Không bao giờ ít hơn mười hay mười hai bản. Được nhìn thấy bản nháp đầu tiên của những tác giả vĩ đại là một điều bổ ích và thú vị. Tôi nghĩ ngay đến hình chụp những bản in thử của Tolstoy, khi nhắc đến người yêu thích việc xem xét lại bản thảo. Ý tôi là, tôi không biết ông ấy có yêu thích việc này không nhưng ông ấy thực sự làm được việc này. Ông ấy luôn luôn xét duyệt lại, ngay đến cả những trang đã tới đoạn in thử. Ông ấy viết lại Chiến Tranh và Hòa Bình tám lần, và vẫn còn chữa lỗi trong những bản in thử. Những điều như thế này thật sự an ủi những nhà văn mà bản nháp đầu tiên của họ như đồ bỏ đi, giống như tôi đây.
Người phỏng vấn: Mô tả những điều xảy ra khi ông viết một truyện ngắn đi.
Raymond Carver: Tôi viết bản nháp đầu tiên rất nhanh, như tôi đã nói. Thường là tốc ký. Tôi chỉ đơn giản lấp đầy trang giấy nhanh hết sức có thể. Trong một số trường hợp, tôi dùng vài cách viết tắt cá nhân, tự ghi chú lại điều tôi nên thực hiện sau này, khi tôi quay lại với nó lần nữa. Một vài cảnh tôi bỏ dở, những cảnh cần được trau chuốt tỉ mỉ sau. Ý tôi là mọi thứ điều yêu cầu được trau chuốt tỉ mỉ – nhưng một vài cảnh tôi để lại đến lần sửa thứ hai hay thứ ba, bởi vì để tỉ mỉ trau chuốt chúng thật sự cần nhiều thời gian hơn. Với bản nháp đầu tiên, nó sẽ là về dàn bài và là xương cốt của câu chuyện. Sau đó, tôi sẽ xem xét những phần còn lại trong những lần hiệu chỉnh tiếp theo. Khi tôi hoàn thành bản nháp tốc ký của mình, tôi sẽ đánh máy lại và bắt đầu chỉnh sửa từ đây. Lúc này nó đã khác so với lúc đầu, đương nhiên là tốt hơn, sau khi được đánh máy lại. Khi tôi đánh máy lại bản nháp đầu tiên, tôi sẽ bắt đầu viết lại, sẽ thêm và bớt vào một ít. Công việc thực sự đến ngay tiếp theo, sau khi tôi xong bản nháp thứ ba hoặc thứ tư. Cũng giống như làm thơ, chỉ có điều, những bài thơ lại thường trải qua từ bốn mươi hay năm mươi bản nháp. Donald Hall bảo tôi rằng ông ấy viết cả trăm bản nháp cho bài thơ của ông. Anh có tưởng tượng được không?
Người phỏng vấn: Có phải cách làm việc của ông đã thay đổi?
Raymond Carver: Những truyện trong “Mình nói gì khi mình nói về” khác biệt ở một mức độ nào đó. Vì một điều, nó thiên về một cuốn sách của sự tự nhận thức hơn, theo cách mà những chuyển động đều được dự định ra sao, tính toán như thế nào. Tôi miệt mài với những truyện này trước khi chúng được xuất bản thành sách đến một mức mà chưa từng có truyện nào khác được như vậy. Khi cuốn sách được hoàn thành và đưa tới tay nhà xuất bản, tôi đã không viết gì thêm trong vòng sáu tháng. Và sau đó, truyện tôi viết tiếp theo chính là “Thánh đường”, truyện này lại được viết hoàn toàn khác với những truyện trước đây nữa, về cả ý đồ và phương thức viết. Tôi cho là nó phản ánh sự thay đổi trong cuộc sống của tôi cũng như trong phong cách viết của tôi. Khi tôi viết “Thánh đường” tôi trải nghiệm sự thúc giục này và tôi cảm thấy “Đây chính là nó, đây chính là nguyên nhân chúng ta làm điều này.” Nó khác biệt so với những câu chuyện trước đây. Một sự gợi mở ùa đến khi tôi viết truyện này. Tôi biết tôi phải đi xa hơn đến mức tôi có thể và mong muốn, đẽo gọt mọi thứ đến tận tủy, chứ không chỉ đến tận xương cốt. Và xa đến một chỗ tận cùng, viết những thứ để xuất bản và tôi sẽ không muốn đọc lại chúng, và đó là sự thật. Trong một bài đánh giá cho cuốn sách mới đây, ai đó đã gọi tôi là một nhà văn tối giản. Người đánh giá coi đó là một lời khen tặng. Nhưng tôi không thích điều này. Có điều gì đó trong việc tối giản có vẻ như thiếu tầm nhìn và tính biểu diễn mà tôi không thích lắm. Nhưng trong tất cả những truyện trong cuốn sách mới, những truyện được viết trong 18 tháng ấy, truyện Thánh đường mang lại cảm giác khác biệt nhất.
Người phỏng vấn: Ông có định ra một độc giả cho mình? Updike từng mô tả độc giả lý tưởng của ông ấy là một chàng trai trẻ ở thị trấn miền Trung nhỏ tìm thấy một trong những cuốn sách của ông trên kệ sách ở thư viện.
Raymond Carver: Thật vui khi nghĩ về người đọc lý tưởng của Updike. Nhưng trừ những truyện đầu tiên, tôi không nghĩ một chàng trai trẻ ở một thị trấn miền Trung nhỏ sẽ đọc Updike. Một chàng trai trẻ sẽ làm gì với The Centaur (Quái vật đầu ngựa) hay Couples (Cặp đôi) hay Rabbit Redux (Thỏ trở lại) hay The Coup (Chuyện phi thường)? Tôi nghĩ Updike viết truyện cho những độc giả mà John Cheever từng mô tả là độc giả của anh ấy “những đàn ông và phụ nữ thông minh, trưởng thành”, đang ở bất cứ nơi đâu. Bất cứ nhà văn gạo cội nào cũng đều viết hay và chân thực nhất anh ta có thể và cũng hi vọng được đón nhận bởi một lượng độc giả đông đảo và sâu sắc nhất có thể. Vậy là anh viết hay nhất có thể, và mong muốn được đón nhận bởi những độc giả lý tưởng. Nhưng tôi nghĩ anh viết cho những nhà văn thì đúng hơn, theo một mức độ nào đó – những nhà văn đã khuất mà anh rất ngưỡng mộ tác phẩm của họ, cũng như những nhà văn đương thời mà anh rất thích đọc. Nếu nhà văn khác thích tác phẩm của bạn, thì khả năng cao những “người trưởng thành và thông minh” cũng sẽ thích nó. Nhưng mà tôi không có một chàng trai mà anh đề cập ở trên trong đầu, hay là bất cứ ai khác, khi tôi viết cả.
Người phỏng vấn: Có bao nhiêu thứ ông viết rồi vứt đi?
Raymond Carver: Nhiều. Nếu bản nháp đầu tiên dài bốn mươi trang, thì tôi thường bỏ đi một nửa. Và nó không chỉ là một vấn đề của việc lấy ra, cắt bớt đi. Tôi gạt bỏ nhiều, xong cũng thêm vào nhiều, xong lại bỏ ra nhiều hơn. Tôi tận hưởng hành động này, việc thêm từ và lọc bỏ từ đi.
Người phỏng vấn: Có phải tiến trình của việc duyệt lại bây giờ đã thay đổi khi mà những câu chuyện đang dường như dài ra và phong phú hơn?
Raymond Carver: Phong phú, vâng, thật là một từ hay để diễn tả. Đúng rồi, và tôi sẽ nói với anh lý do. Hồi ở trường, có một nhân viên đánh máy, cô có một cái máy đánh chữ cũ, một cái máy xử lý từ, và tôi có thể đưa cho cô truyện của tôi để cô đánh máy, và khi cô ấy đánh máy xong, tôi nhận lại được một bản chỉnh chu, tôi có thể đánh dấu từng câu từng đoạn và đưa nó lại cho cô, rồi ngày tiếp theo tôi lại nhận được một bản đánh máy chỉnh chu khác. Sau đó tôi lại có thể đánh dấu, sửa chữa nó thỏa thích, và ngày tiếp theo tôi sẽ lại nhận được một bản đánh máy chỉnh chu khác nữa. Tôi yêu việc này. Nó như thể chỉ là một việc bé cỏn con nhưng nó đã thay đổi cuộc đời tôi, người phụ nữ ấy và chiếc máy đánh chữ của cô.
Người phỏng vấn: Ông có khi nào không làm việc để kiếm tiền?
Raymond Carver: Một lần trong suốt một năm. Đó cũng là năm rất quan trọng đối với tôi nữa. Tôi viết hầu hết những truyện trong tập Em làm ơn in đi, có được không? trong năm này. Đó là vào năm 1970 hay 1971. Tôi làm việc cho một nhà máy xuất bản sách giáo khoa ở Palo Alto. Đó là công việc công chức đầu tiên của tôi, ngay sau giai đoạn tôi làm người trông cửa tại bệnh viện ở Sacramento. Tôi đang yên lặng làm công việc biên tập của tôi khi công ty, được gọi là SRA quyết định thực hiện một cuộc cải tổ. Tôi dự định sẽ bỏ việc, tôi đang soạn thư từ chức thì đột ngột tôi bị sa thải. Điều này cũng thật là kỳ diệu đi. Chúng tôi mời tất cả bạn bè của mình đến bữa tiệc sa thải để chung vui! Và đó là giai đoạn vợ của tôi tốt nghiệp. Đó chính là bước ngoặt. Là một thời điểm tốt đẹp.
Người phỏng vấn: Ông có theo tôn giáo nào không?
Raymond Carver: Không, nhưng tôi phải tin vào phép mầu và khả năng hồi sinh. Tôi không có vướng mắc gì đối với điều này. Mỗi ngày tôi thức dậy, tôi vui vì đã thức dậy. Đó là lý do tôi thích dậy sớm. Thời điểm tôi nghiện rượu, tôi ngủ đến tận trưa và thức dậy với những cơn run rẩy.
Người phỏng vấn: Ông có tiếc nuối nhiều về những điều tồi tệ đã xảy ra không?
Raymond Carver: Tôi không thể thay đổi gì vào lúc này cả. Tôi không thể cứ nuối tiếc. Cuộc sống ấy đã qua, và tôi không thể nuối tiếc rằng nó đã trôi qua. Tôi phải sống với hiện tại. Cuộc sống ngày trước thật sự đã trôi qua rồi – và nó đã mờ nhạt đến mức tôi cho rằng đó là cuộc sống của một nhân vật nào đó trong những cuốn tiểu thuyết thế kỷ XIX mà tôi đã đọc. Tôi không dành quá năm phút trong mỗi tháng để nhớ về quá khứ. Quá khứ đã là một miền đất lạ, và chúng hành xử khác biệt ở đó. Cuộc sống vẫn diễn ra. Tôi thực sự cảm thấy tôi sống hai cuộc đời khác nhau vậy.
Người phỏng vấn: Ông có thể nói về những nhà văn ảnh hưởng đến ông, hoặc ít nhất có thể kể một vài cái tên mà ông thực sự ngưỡng mộ tác phẩm của họ?
Raymond Carver: Ernest Hemingway là một, những truyện đầu tiên của ông. “Sông lớn hai lòng”, “Con mèo trong mưa”, “Cơn gió ba ngày”, “Nhà của lính”, và nhiều truyện khác nữa. Chekhov. Tôi cho rằng ông là người có những tác phẩm mà tôi ngưỡng mộ nhất. Nhưng mà có ai lại không thích Chekhov chứ? Tôi đề cập đến những tập truyện của ông, không phải là những vở kịch. Các vở kịch của ông có vẻ hơi chậm so với nhịp điệu của tôi. Tolstoy. Bất cứ truyện ngắn nào của ông, truyện vừa, cả Anna Karenina. Nhưng không phải là Chiến tranh và Hòa bình. Quá chậm. Nhưng “Cái chết của Ivan Ilyich”, “Chủ nhân và người đàn ông” , “Một người cần bao nhiêu đất?” là những truyện hay nhất. Isaac Babel, Flannery O’Connor, Frank O’Connor. Những người Dublin của James Joyce. John Cheever. Bà Bovary. Năm ngoái tôi đọc lại cuốn sách ấy, cùng với một bản dịch mới của bức thư Flaubert viết khi ông sáng tác – không có lời nào khác dành cho nó – Bà Bovary. Conrad. Quá xa để đi của Updike. Và có những nhà văn tuyệt vời mà tôi phát hiện trong một hay hai năm trước như Tobias Wolff. Những truyện của ông trong cuốn sách Trong khu vườn của những liệt sĩ Bắc Mỹ thật sự rất tuyệt. Max Schott. Bobbie Ann Mason. Tôi đã nhắc đến cô ấy chưa vậy? Cô ấy giỏi và xứng đáng được nhắc đến lần hai. Harold Pinter. V. S. Pritchett. Nhiều năm trước, tôi đọc được trong một bức thư của Chekhov một đoạn thật sự ấn tượng. Đó là một mẩu lời khuyên của ông dành cho một trong những người bạn thường xuyên trao đổi thư từ với ông, và nó như thế này: Bạn tôi, anh không cần phải viết về những con người phi thường những người đạt được những chiến công phi thường và đáng nhớ. (Phải hiểu rằng tôi còn là sinh viên, lúc ấy tôi đọc những vở kịch về những hoàng tử, những công tước và những cuộc lật đổ đế chế. Những cuộc truy tìm, những bối cảnh cần được dàn dựng thấu đáo dành cho những vị anh hùng trong đó. Những tiểu thuyết với những vị anh hùng kiệt xuất.) Nhưng đọc được câu nói đó của Chekhov trong bức thư đó, cũng như trong nhiều bức thư khác của ông, và đọc truyện của ông, khiến tôi nhìn nhận sự việc khác đi so với trước. Không lâu sau đó, tôi đọc một vở kịch và một số truyện của Maxim Gorky, và ông ấy đơn giản đã khắc họa điều Chekhov đã nói vào những tác phẩm của mình. Richard Ford cũng là một nhà văn đáng nhắc tới. Cậu ấy viết chủ yếu là tiểu thuyết nhưng cậu cũng viết truyện ngắn và tiểu luận. Cậu ấy là bạn của tôi. Tôi có nhiều người bạn, là bạn tốt của tôi, và một vài người viết rất tốt. Một vài người khác thì không.
Người phỏng vấn: Ông làm gì trong trường hợp ấy, ý của tôi là ông sẽ giải quyết như thế nào khi những người bạn của ông xuất bản những thứ mà ông không thích?
Raymond Carver: Tôi không nói gì nếu họ không hỏi ý của tôi, và tôi hi vọng họ đừng hỏi. Nhưng nếu anh được hỏi tới, anh phải bày tỏ ý kiến thật uyển chuyển sao cho chúng không phá hủy tình bạn của hai người. Anh muốn bạn anh làm tốt và viết hay nhất họ có thể. Nhưng thỉnh thoảng anh sẽ phải thất vọng với tác phẩm của họ. Anh muốn mọi thứ diễn ra thật trôi chảy nhưng rồi anh lại sợ rằng có lẽ mọi thứ sẽ không như ý và anh cũng không thể làm được gì nhiều để giúp đỡ.
Người phỏng vấn: Ông nghĩ gì về tiểu thuyết đạo đức? Tôi đoán về điểm này, chúng ta cũng sẽ nói về John Gardner và ảnh hưởng của ông ấy đối với ông. Tôi biết ông là học trò của ông ấy nhiều năm trước, khi ông còn học ở Humboldt.
Raymond Carver: Đúng rồi. Tôi đã viết về mối quan hệ của chúng tôi trong một bài báo cho Antaeus và viết chi tiết hơn trong bài giới thiệu cho cuốn sách của ông – “Trở thành tiểu thuyết gia” được xuất bản sau khi ông mất. Tôi nghĩ Về tiểu thuyết đạo đức là một cuốn sách thông minh tuyệt vời. Tôi không đồng ý với toàn bộ cuốn sách, nhưng nhìn chung tôi cho rằng ông nói đúng. Không phải là phần đánh giá những nhà văn đương thời của ông theo như mục đích và khát vọng của cuốn sách. Đây là cuốn sách công nhận cuộc đời chứ không phải là rẻ rúng nó. Định nghĩa của Gardner về đạo đức chính là sự xác thực cuộc sống. Và với điều này, ông tin rằng tiểu thuyết hay chính là tiểu thuyết đạo đức. Đây là cuốn sách để anh tranh luận cùng, nếu anh muốn tranh luận. Dù sao thì đây vẫn là một cuốn sách xuất sắc. Tôi nghĩ ông ấy còn có thể tranh luận về trường hợp của ông tốt hơn nữa trong cuốn Trở thành tiểu thuyết gia. Và ông ấy không đi theo các nhà văn khác như trong Về tiểu thuyết đạo đức. Chúng tôi mất liên lạc trong nhiều năm khi ông xuất bản Về tiểu thuyết đạo đức, nhưng sự ảnh hưởng của ông, những điều ông đã đại diện cho xuất hiện trong đoạn thời gian tôi còn là học trò của ông vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi đến mức trong một khoảng thời gian dài tôi đã không muốn đọc cuốn sách này của ông. Tôi sợ sẽ phát hiện ra những thứ mà tôi đã viết nhiều năm liền toàn là vô đạo đức. Anh phải hiểu rằng chúng tôi không gặp nhau trong gần hai mươi năm và chỉ nối lại tình bạn sau khi tôi chuyển đến Syracuse và ông ấy ở Binghamton, cách tôi 70 dặm. Có nhiều người giận dữ với Gardner và cuốn sách của ông khi nó được xuất bản. Ông ấy động đến những chiếc vảy ngược. Tôi chợt nghĩ rằng đây quả thật là một tác phẩm đáng chú ý.
Người phỏng vấn: Nhưng sau khi đọc cuốn sách, ông đã nghĩ gì về những tác phẩm của mình? Ông đã viết những câu chuyện có đạo đức hay là vô đạo đức?
Raymond Carver: Tôi vẫn không chắc lắm! Nhưng tôi nghe người ta nói, và sau đó ông ấy tự nói với tôi, rằng ông ấy thích các tác phẩm của tôi. Đặc biệt là những tác phẩm mới. Điều này khiến tôi thật vui sướng. Hãy đọc Trở thành tiểu thuyết gia.
Người phỏng vấn: Ông vẫn còn làm thơ chứ?
Raymond Carver: Tôi viết một vài bài, nhưng vẫn chưa đủ. Tôi muốn viết nhiều hơn. Nếu một khoảng thời gian dài trôi qua, khoảng như sáu tháng, tôi sẽ cảm thấy lo lắng nếu tôi không viết bài thơ nào. Tôi thấy tôi còn rơi vào trầm tư, tự hỏi có khi nào tôi không là nhà thơ nữa hoặc là không có khả năng làm thơ nữa. Chính những lúc ấy tôi ngồi xuống và cố gắng viết một vài bài thơ. Cuốn sách được xuất bản vào mùa xuân tới của tôi, Fires – gồm tất cả những bài thơ mà tôi muốn giữ lại.
Người phỏng vấn: Chúng tác động đến nhau như thế nào? Việc viết truyện và viết thơ ấy.
Raymond Carver: Chúng không ảnh hưởng gì đến nhau. Trong thời gian dài, tôi cân bằng giữa hứng thú viết truyện và viết thơ. Khi đọc tạp chí, tôi thường lật đến trang thơ trước, rồi mới đến trang truyện. Cuối cùng, tôi phải ra quyết định và tôi đã nghiêng về viết truyện. Đây là một lựa chọn đúng đắn đối với tôi. Tôi không sinh ra để làm một nhà thơ. Tôi không biết tôi có phải được sinh ra để trở thành ai đó ngoài việc là một người đàn ông Mỹ da trắng. Có lẽ tôi sẽ là một nhà thơ theo dịp. Nhưng tôi sẽ dàn xếp ổn thỏa điều này. Vì nó còn tốt hơn là không phải kiểu nhà thơ nào cả.
Người phỏng vấn: Danh tiếng đã thay đổi ông như thế nào?
Raymond Carver: Tôi cảm thấy không thỏa mái với từ này. Anh thấy đấy, ngay từ đầu tôi đã bắt đầu với mức kỳ vọng thấp như thế – ý tôi là, anh nghĩ anh có thể đi bao xa chỉ bằng việc viết truyện ngắn? Và tôi không có mấy cái gọi là lòng tự trọng, một hậu quả của việc say sưa thường xuyên. Vì vậy sự nổi tiếng chính là những cơn kinh ngạc liên miên đối với tôi, những chú ý mà nó kéo đến. Nhưng tôi có thể kể với anh rằng sau sự đón nhận của Chúng ta nói gì về, tôi đã cảm nhận được một sự tự tin mà tôi chưa từng có trước đây. Mọi điều tốt đẹp xảy ra khi ấy đã liên kết lại với nhau khiến cho tôi muốn viết thậm chí là nhiều và tốt hơn nữa. Đó thật sự là một sự kích thích tốt đẹp. Và tất cả những điều này đến với tôi ở giai đoạn mà tôi đã mạnh mẽ hơn tôi trước đây nhiều. Anh có hiểu những điều tôi vừa nói không? Tôi chưa bao giờ cảm thấy mạnh mẽ hơn và chắc chắn hơn về định hướng của mình như thế. Vậy nên, “danh tiếng” – hoặc là, phải nói sự chú ý và sự quan tâm mới tới này – chính là một thứ tốt. Nó nâng đỡ cho sự tự tin của tôi khi sự tự tin của tôi cần được nâng đỡ.
Người phỏng vấn: Ai đọc những tác phẩm của ông trước nhất?
Raymond Carver: Tess Gallagher. Như anh biết, cô ấy cũng là một nhà thơ và nhà văn viết truyện ngắn. Tôi cho cô ấy xem mọi thứ tôi viết, trừ những bức thư, và tôi thậm chí cũng cho cô ấy đọc một số bức thư nữa. Nhưng cô ấy thật sự có con mắt nhìn và cảm nhận riêng đối với những thứ tôi viết. Tôi không đưa cho cô ấy đọc nếu chưa có đánh dấu kỹ càng và trau chuốt chúng tốt nhất có thể. Đó thường là bản nháp thứ tư hay thứ năm, và sau đó cô ấy sẽ tiếp tục đọc những phiên bản kế tiếp. Cho tới lúc này, tôi đã đề tặng ba cuốn sách cho cô ấy, và những đề tặng này không chỉ là biểu tượng của tình yêu và cảm tình; chúng cũng là sự tôn trọng cao nhất mà tôi dành cho cô ấy và công nhận sự giúp đỡ và nguồn cảm hứng mà cô ấy mang đến cho tôi.
Người phỏng vấn: Gordon Lish ở đâu trong những quá trình này? Tôi biết ông ấy là biên tập viên của ông ở Knopf.
Raymond Carver: Khi anh ấy là biên tập viên, người bắt đầu xuất bản những truyện ngắn của tôi ở Esquire đầu những năm 70. Nhưng chúng tôi là bạn bè trước đó nữa, từ năm 1967 đến năm 1968, ở Palo Alto. Anh ấy lúc đó đang làm việc cho nhà máy xuất bản sách giáo khoa ngay đối diện nhà máy mà tôi làm việc. Cái nơi đã sa thải tôi ấy. Anh ấy không làm việc theo giờ hành chính cố định. Anh ấy thường làm việc tại nhà. Ít nhất một lần một tuần, anh ấy gọi tôi đến nhà anh ấy dùng bữa trưa. Anh ấy cũng sẽ không ăn gì, anh ấy chỉ nấu thứ gì đó cho tôi và sau đó quanh quẩn ở bàn nhìn tôi ăn. Điều này khiến tôi lo lắng, như anh có thể tưởng tượng ra mà. Kết cục mỗi bữa ăn đều như thế này, tôi rốt cuộc vẫn không ăn hết một ít thức ăn trên đĩa và thế là anh ấy rốt cuộc sẽ ăn nốt phần thừa lại đó. Có lẽ là vì cách anh được nuôi lớn. Đây không phải là một ví dụ độc nhất. Anh ấy vẫn thường làm những điều tương tự như thế. Anh ấy sẽ kéo tôi đi ăn trưa, và chẳng gọi món gì cả ngoài đồ uống và sau đó anh ấy sẽ ăn đồ ăn mà tôi để lại trên đĩa của tôi! Tôi thấy anh ấy làm như vậy một lần khác ở phòng trà người Nga. Ở đó có bốn người chúng tôi, và sau khi đồ ăn được dọn ra, anh ấy ngồi nhìn chúng tôi ăn. Khi anh ấy trông thấy chúng tôi để lại đồ ăn trên đĩa, anh ấy liền quét sạch chúng. Ngoài sự điên rồ này, có một điều thú vị hơn bất cứ thứ gì, anh ấy thật sự thông minh và nhạy bén với nhu cầu bản thảo. Anh ấy là một biên tập viên giỏi. Có lẽ là một biên tập viên tài ba. Tất cả những gì tôi có thể biết chắc chắn chính là anh ấy là biên tập viên của tôi và cũng là một người bạn của tôi, và tôi thật vui vì cả hai điều ấy.
Người phỏng vấn: Ông có nghĩ đến việc viết thêm kịch bản phim?
Raymond Carver: Nếu chủ đề cũng thú vị như kịch bản tôi vừa hoàn thành cùng Michael Cimino về cuộc sống của Dostoyevsky, thì đương nhiên là có rồi. Nếu không thì thôi. Nhưng mà về Dostoyevsky! Cá là tôi sẽ làm thôi.
Người phỏng vấn: Và hẳn là có cả vấn đề tiền bạc trong đó nữa.
Raymond Carver: Đúng rồi.
Người phỏng vấn: Đó là phần dành cho chiếc Mercedes.
Raymond Carver: Nó đó.
Người phỏng vấn: Còn tờ The New Yorker thì sao? Khi mới bắt đầu ông có gửi truyện của mình đến tờ The New Yorker không?
Raymond Carver: Không, tôi không gửi. Tôi không đọc The New Yorker. Tôi gửi truyện và thơ của tôi tới những tờ tạp chí nhỏ và thỉnh thoảng chúng được chấp nhận và tôi thật hạnh phúc vì sự chấp nhận ấy. Tôi có độc giả của mình, anh thấy đấy, dù tôi chưa bao giờ gặp bất cứ độc giả nào của mình.
Người phỏng vấn: Ông có nhận được thừ từ những độc giả của mình?
Raymond Carver: Thư, băng, và thỉnh thoảng còn có hình ảnh. Ai đó vừa gửi cho tôi một băng cat-xét – gồm những bài hát được viết ra từ những câu chuyện của tôi.
Người phỏng vấn: Ông viết tốt hơn khi ở bờ Tây – ở Washington – hay là ở đây, miền Đông này? Thật ra, ý tôi muốn hỏi là cảm quan về nơi chốn đối với tác phẩm của ông quan trọng như thế nào?
Raymond Carver: Trước kia, tôi thấy việc tôi là một nhà văn đến từ một vùng đất đặc biệt nào đó là điều quan trọng. Là một nhà văn đến từ viễn Tây đối với tôi là quan trọng, dù tốt hay xấu. Tôi nghĩ tôi di chuyển quá nhiều, sống ở quá nhiều nơi, cảm thấy luôn xê dịch và chuyển chỗ, nên cũng không có mấy cảm giác vững chãi về cái gọi là nơi chốn. Nếu tôi từng cố ý định ra một nơi chốn và thời gian cụ thể, hình như là có, đặc biệt là trong cuốn sách đầu tiên, tôi cho rằng nơi ấy chắc hẳn phải là vùng Bắc tây Thái Bình Dương. Tôi ngưỡng mộ cảm giác gắn liền với nơi chốn của các nhà văn như Jim Welch, Wallace Stegner, John Keeble, William Eastlake, và William Kittredge. Có rất nhiều nhà văn tài ba với cảm quan về nơi chốn mà anh có thể kể đến. Nhưng đa phần truyện của tôi đều không dựa trên một nơi chốn cụ thể nào. Ý của tôi là, chúng có thể diễn ra ở bất cứ thành phố hay khu đô thị nào, ở đây – Syracuse, cũng có thể ở Tucson, Sacramento, San Jose, San Fransico, Seattle, hay là Port Angeles, Washington. Dù trong trường hợp nào thì hầu hết truyện của tôi đều có bối cảnh là một căn phòng!
Người phỏng vấn: Ông có nơi làm việc đặc biệt nào trong nhà không?
Raymond Carver: Có, trong phòng làm việc của tôi trên lầu. Tôi cần có một nơi dành riêng cho mình. Cho nhiều ngày trôi qua khi chúng tôi ngắt điện thoại và treo tấm bảng không tiếp khách lên. Nhiều năm liền, tôi đã làm việc trong phòng bếp, hoặc là phòng cá nhân trong thư viện, hay trong xe ô tô của mình. Căn phòng dành riêng cho tôi này là một điều xa xỉ và cần thiết lúc này.
Người phỏng vấn: Ông vẫn còn săn bắn và câu cá chứ?
Raymond Carver: Không còn nhiều nữa. Thỉnh thoảng tôi vẫn còn đi câu, câu cá hồi vào mùa hè, nếu khi ấy tôi ở Washington. Nhưng tôi không đi săn nữa, thật tiếc. Tôi không biết đi săn ở đâu! Tôi đoán tôi có thể tìm một vài người đi cùng, nhưng tôi vẫn chưa tìm. Nhưng bạn của tôi, Richard Ford là một tay săn bắn. Khi cậu ấy đến đây vào mùa xuân năm 1981 để đọc tác phẩm của mình, cậu ấy đã dùng tiền công đó và mua cho tôi một khẩu súng săn. Thử tưởng tượng điều ấy mà xem! Và cậu ấy còn khắc tặng lên đó “Tặng Raymond từ Richard, Tháng tư 1981”. Richard là một thợ săn và anh thấy đó, tôi nghĩ cậu ấy đang cố cổ vũ tôi.
Người phỏng vấn: Ông hi vọng truyện của ông sẽ ảnh hưởng đến người khác như thế nào? Ông có nghĩ tác phẩm của ông làm thay đổi người khác không?
Raymond Carver: Tôi thực sự không biết. Tôi thậm chí nghi ngờ điều này. Không có thay đổi gì sâu sắc cả. Có lẽ là không có chút thay đổi nào cả. Sau tất cả, nghệ thuật là một hình thức giải trí mà, đúng không? Đối với cả người sáng tạo và người thưởng thức. Nó cũng giống như việc anh đánh bi-a, chơi bài, hay là chơi bowling – nó chỉ khác biệt ở hình thức giải trí thôi, có thể nói thưởng thức nghệ thuật là một hình thức giải trí cao hơn. Tôi cũng không nói là không hề có yếu tố nuôi dưỡng tâm hồn ở đây. Đương nhiên là có rồi. Nghe bản hòa nhạc của Beethoven hoặc dành thời gian chiêm ngưỡng một bức họa của van Gogh hay đọc một bài thơ của Blake có thể mang đến một trải nghiệm sâu sắc mà việc chơi bài brit hay chơi bowling không thể mang đến được. Nghệ thuật là tất cả những điều mà nghệ thuật sẽ là. Nhưng nghệ thuật cũng là một cách giải trí cao cấp. Tôi có sai không khi nghĩ như vây? Tôi không biết. Nhưng tôi nhớ suốt những năm hai mươi tuổi, tôi đọc những vở kịch của Strindberg, tiểu thuyết của Max Frisch, thơ của Rilke, nghe nhạc Bartok cả đêm, xem một chương trình tivi đặc biệt về Sistine Chapel và Michelangelo và cảm thấy chấn động sau những trải nghiệm này, tôi không thể làm gì khác hơn ngoài việc bị tác động bởi chúng và phải thay đổi. Tôi phải trở thành một người khác. Nhưng sau đó tôi sớm nhận ra cuộc sống của tôi cũng chẳng thay đổi gì cả. Không có bất cứ thay đổi dù là những thay đổi tôi có thể thấy được, cảm nhận được hoặc không. Tôi hiểu rằng nghệ thuật là điều tôi có thể truy cầu khi tôi có đủ thời gian và tiền bạc, và chỉ vậy thôi. Nghệ thuật là điều xa xỉ và chúng chẳng thay đổi tôi hay cuộc đời của tôi được. Tôi đoán tôi đã chấp nhận cái hiện thực khắc nghiệt là nghệ thuật không thể khiến cho mọi thứ xảy ra. Không. Tôi không một phút giây nào tin vào cái luận điệu ngớ ngẩn vô nghĩa của hiện tượng Shelley(3) rằng các nhà thơ là ‘nhà lập pháp không được công nhận’ của thế giới này. Thật là một ý tưởng kỳ khôi! Isak Dinesen nói rằng bà ấy viết một ít mỗi ngày mà không hi vọng hay khổ đau gì cả. Tôi thích điều đó. Những ngày đó đã không còn, nếu như chúng thật sự từng có tồn tại, những ngày mà một cuốn tiểu thuyết, một vở kịch hay một tập thơ có thể thay đổi ý tưởng của mọi người về thế giới họ đang sống hoặc thậm chí về chính họ. Có thể việc viết tiểu thuyết về những kiểu người cụ thể đang sống trong những kiểu cuộc sống cụ thể sẽ gợi mở ra những điều mới mẻ hơn về họ và họ sẽ được thấu hiểu hơn so với trước. Nhưng tôi e rằng đó là tất cả, ít nhất là theo những gì tôi quan tâm đến. Có lẽ thơ thì sẽ khác chăng. Tess nhận được những bức thư từ độc giả của cô ấy và họ nói rằng những bài thơ của cô đã cứu họ khỏi việc nhảy xuống từ vách đá hoặc tự dìm mình trong nước v.v. Nhưng đó lại là một phạm vi khác nữa. Tiểu thuyết hay sẽ góp phần chuyển đưa tin tức của một thế giới này đến một thế giới khác. Tôi nghĩ điều này đã là tốt nhất rồi. Nhưng thay đổi mọi thứ thông qua tiểu thuyết, thay đổi đảng phái chính trị của ai đó hoặc chính hệ thống chính trị, hoặc cứu lấy những con cá voi hoặc những cây gỗ đỏ, thì không. Sẽ không phải đâu nếu đây là những loại thay đổi mà bạn muốn nhắc đến. Và tôi cũng không nghĩ rằng nghệ thuật cần phải làm bất kỳ điều gì trong số những điều này. Chúng không bị buộc phải thực hiện bất cứ điều gì cả. Chúng chỉ có ở đó vì niềm vui mãnh liệt mà chúng ta nhận được khi sáng tạo/thưởng thức chúng, và cảm giác thích thú đặc biệt khi đọc được một tuyệt phẩm trường kỳ cùng thời gian. Những thứ tỏa ra ánh sáng — thứ ánh sáng bền bỉ và ổn định, dẫu mờ ảo nhập nhòa.
(1): tên các tạp chí dã ngoại & săn bắn
(2): Alcoholics Anonymous (AA): Hội Những người nghiện rượu Ẩn danh là một tổ chức quốc tế dành cho những người đàn ông và phụ nữ có vấn đề về uống rượu.
(3): Percy Bysshe Shelley (1792 – 1822) là nhà thơ lãng mạn người Anh, ông từng viết tiểu luận “A Defence of Poetry” – trong đó có một tuyên bố nổi tiếng là “những nhà thơ là những nhà lập pháp không được công nhận của thế giới”. Raymond nhắc đến Shelleyan nghĩa là những người ủng hộ và ngưỡng mộ Shelley.
Khám phá thêm từ Chuyện Đọc
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.



