[Trích dịch] Nghệ Thuật Là Gì? – Leo Tolstoy – Chương XVI

Nghệ thuật, mọi loại hình nghệ thuật, đều mang đặc tính này: nó kết nối con người. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều khiến những ai cảm nhận được cảm xúc của nghệ sĩ trở nên đồng điệu trong tâm hồn, không chỉ với nghệ sĩ mà còn với tất cả những người có cùng ấn tượng.

Dịch từ bản dịch tiếng Anh What Is Art? – Leo Tolstoy của Aylmer Maude (1904)

Chương XVI – Chất lượng của nghệ thuật, khi xét theo nội dung

Chất lượng của nghệ thuật, khi xét theo nội dung: Cảm xúc càng cao đẹp, nghệ thuật càng tốt.
Đám đông trí thức: Nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta.
Những lý tưởng mới đặt ra các yêu cầu mới cho nghệ thuật.
Nghệ thuật kết nối con người: Nghệ thuật tôn giáo và nghệ thuật phổ quát đều hợp tác để đạt được một mục tiêu chung.
Đánh giá mới về nghệ thuật: Nghệ thuật xấu.
Các ví dụ về nghệ thuật: Làm thế nào để kiểm tra một tác phẩm được cho là nghệ thuật?

Làm thế nào để chúng ta xác định nội dung nào là tốt hay xấu trong nghệ thuật?

Nghệ thuật, giống như ngôn ngữ, là một phương tiện giao tiếp và do đó là một công cụ của sự tiến bộ, tức là sự chuyển động của nhân loại tiến về sự hoàn thiện. Ngôn ngữ giúp các thế hệ sau tiếp cận được toàn bộ tri thức được khám phá qua kinh nghiệm và suy tư của các thế hệ trước, cũng như của những con người ưu tú và tiên phong nhất trong thời đại của họ; nghệ thuật giúp các thế hệ sau tiếp cận được toàn bộ cảm xúc mà tổ tiên họ đã trải qua, cũng như những cảm xúc đang được những người ưu tú và tiên phong nhất của thời đại hiện tại cảm nhận.

Cũng giống như sự tiến hóa của tri thức diễn ra khi tri thức đúng đắn và cần thiết hơn thay thế những gì sai lầm và không cần thiết, sự tiến hóa của cảm xúc diễn ra thông qua nghệ thuật—những cảm xúc kém nhân ái và ít cần thiết cho sự hạnh phúc của nhân loại được thay thế bằng những cảm xúc nhân ái hơn và cần thiết hơn cho mục đích đó. Đó chính là mục đích của nghệ thuật. Và xét về mặt nội dung, nghệ thuật càng đáp ứng được mục đích này thì càng tốt, nghệ thuật càng ít đáp ứng được mục đích này thì càng tồi.

Việc đánh giá cảm xúc (tức là việc công nhận cảm xúc này hoặc cảm xúc kia là tốt hay xấu, cần thiết hay không cần thiết cho hạnh phúc của nhân loại) được thực hiện dựa trên nhận thức tôn giáo của thời đại.

Trong mọi thời kỳ lịch sử và trong mọi xã hội loài người, luôn tồn tại một nhận thức về ý nghĩa của cuộc sống, đại diện cho trình độ cao nhất mà con người trong xã hội đó đã đạt được—một nhận thức định nghĩa về điều thiện tối cao mà xã hội hướng tới. Nhận thức này chính là quan niệm tôn giáo của thời đại và xã hội đó. Quan niệm tôn giáo này luôn được một số cá nhân tiên tiến diễn đạt một cách rõ ràng, và được tất cả các thành viên trong xã hội cảm nhận, ít nhiều một cách mơ hồ.

Quan niệm tôn giáo như vậy và cách diễn đạt tương ứng của nó luôn tồn tại trong mọi xã hội. Nếu chúng ta nghĩ rằng trong xã hội hiện tại không có quan niệm tôn giáo, thì điều đó không phải vì nó thực sự không tồn tại, mà là vì chúng ta không muốn nhìn thấy nó. Và thường thì chúng ta không muốn nhìn thấy nó bởi vì nó phơi bày sự thật rằng cuộc sống của chúng ta không nhất quán với quan niệm tôn giáo đó.

Quan niệm tôn giáo trong một xã hội giống như hướng chảy của một dòng sông. Nếu dòng sông chảy, nó phải có hướng. Nếu một xã hội đang sống, thì phải có một quan niệm tôn giáo chỉ ra hướng đi mà, ít nhiều một cách ý thức, tất cả các thành viên trong xã hội đều hướng tới.

Vì vậy, trong mọi xã hội, luôn luôn tồn tại một quan niệm tôn giáo. Và chính dựa trên tiêu chuẩn của quan niệm tôn giáo này mà cảm xúc được truyền tải qua nghệ thuật luôn được đánh giá. Chỉ trên cơ sở quan niệm tôn giáo của thời đại, con người mới chọn ra từ vô vàn lĩnh vực nghệ thuật những tác phẩm nghệ thuật truyền tải cảm xúc giúp cho quan niệm tôn giáo trở thành hiện thực trong đời sống. Nghệ thuật như vậy luôn được đánh giá cao và khuyến khích; trong khi nghệ thuật truyền tải những cảm xúc lỗi thời, xuất phát từ quan niệm tôn giáo cũ kỹ của một thời đại trước, luôn bị lên án và khinh miệt.

Tất cả những nghệ thuật còn lại, truyền tải những cảm xúc đa dạng qua đó con người giao tiếp với nhau, không bị lên án mà được dung thứ, miễn là nó không truyền tải những cảm xúc trái ngược với quan niệm tôn giáo. Ví dụ, với người Hy Lạp, nghệ thuật truyền tải cảm xúc về cái đẹp, sức mạnh và lòng can đảm (Hesiod, Homer, Phidias) được chọn lựa, tán thưởng, và khuyến khích; trong khi nghệ thuật truyền tải cảm xúc về dục vọng thô thiển, sự chán chường, và tính yếu đuối bị lên án và khinh bỉ. Với người Do Thái, nghệ thuật truyền tải cảm xúc về lòng sùng đạo và sự phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời (sử thi Sáng Thế Ký, các tiên tri, và Thánh Vịnh) được chọn lựa và khuyến khích, trong khi nghệ thuật truyền tải cảm xúc về thờ cúng ngẫu tượng (như câu chuyện con bò vàng) bị lên án và khinh miệt.

Tất cả những loại hình nghệ thuật còn lại—truyện kể, bài hát, điệu múa, trang trí nhà cửa, dụng cụ, quần áo—nếu không trái ngược với quan niệm tôn giáo, thì không bị phân biệt hay bàn luận. Như vậy, xét về mặt nội dung, nghệ thuật đã luôn được đánh giá như thế ở mọi nơi và mọi thời, và nó nên tiếp tục được đánh giá theo cách đó, bởi cách tiếp cận này xuất phát từ những đặc điểm cơ bản của bản chất con người, và những đặc điểm đó không thay đổi.

Tôi biết rằng, theo quan điểm phổ biến trong thời đại chúng ta, tôn giáo là một loại mê tín mà nhân loại đã vượt qua, và vì vậy người ta cho rằng không hề tồn tại một nhận thức tôn giáo chung để chúng ta có thể dùng làm tiêu chuẩn đánh giá nghệ thuật trong thời đại này. Tôi biết rằng đây là quan điểm phổ biến trong các tầng lớp giả vờ có học thức ngày nay. Những người không công nhận Cơ đốc giáo với ý nghĩa thực sự của nó—vì nó làm lung lay tất cả những đặc quyền xã hội của họ—thường sáng tạo ra đủ loại lý thuyết triết học và mỹ học để che giấu khỏi chính mình sự vô nghĩa và sai trái trong cuộc sống của họ. Những người này, một cách cố ý hoặc đôi khi vô tình, nhầm lẫn khái niệm “nghi lễ tôn giáo” với khái niệm “nhận thức tôn giáo,” và nghĩ rằng bằng cách phủ nhận nghi lễ, họ có thể xóa bỏ nhận thức tôn giáo. Nhưng ngay cả những cuộc tấn công vào tôn giáo và những nỗ lực xây dựng một quan niệm sống trái ngược với nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta, cũng thể hiện rõ ràng nhất sự tồn tại của một nhận thức tôn giáo đang lên án những lối sống không phù hợp với nó.

Nếu nhân loại tiến bộ, tức là luôn tiến về phía trước, thì tất yếu phải có một kim chỉ nam định hướng cho sự chuyển động đó. Và tôn giáo luôn cung cấp kim chỉ nam này. Toàn bộ lịch sử đã chứng minh rằng sự tiến bộ của nhân loại chỉ được thực hiện dưới sự dẫn dắt của tôn giáo. Nhưng nếu nhân loại không thể tiến bộ mà thiếu sự dẫn dắt của tôn giáo—và tiến bộ thì luôn diễn ra, bao gồm cả trong thời đại của chúng ta—thì chắc chắn phải tồn tại một tôn giáo của thời đại này. Vì vậy, dù điều này có làm hài lòng hay không làm hài lòng những người tự xưng là “có học thức” ngày nay, họ vẫn phải thừa nhận sự tồn tại của tôn giáo—không phải là một nghi lễ tôn giáo, như Công giáo, Tin Lành, hay bất kỳ tôn giáo nào khác, mà là một nhận thức tôn giáo—một kim chỉ nam luôn hiện diện ở bất cứ nơi nào có sự tiến bộ. Nếu nhận thức tôn giáo tồn tại giữa chúng ta, thì nghệ thuật của chúng ta phải được đánh giá dựa trên nhận thức tôn giáo đó. Và, như đã luôn xảy ra trong mọi thời đại, nghệ thuật truyền tải cảm xúc xuất phát từ nhận thức tôn giáo của thời đại nên được chọn lọc từ tất cả các loại nghệ thuật khác, được công nhận, đánh giá cao và khuyến khích. Trong khi đó, nghệ thuật đi ngược lại nhận thức này nên bị lên án và khinh miệt, và những loại nghệ thuật khác không liên quan thì không nên được đặc biệt chú ý hay khuyến khích.

Nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta, trong ứng dụng rộng rãi và thực tế nhất, chính là ý thức rằng hạnh phúc của chúng ta—cả về vật chất lẫn tinh thần, cá nhân lẫn tập thể, trong hiện tại lẫn vĩnh cửu—nằm ở sự phát triển tình huynh đệ giữa mọi người, trong sự hòa hợp yêu thương lẫn nhau. Nhận thức này không chỉ được bày tỏ bởi Chúa Jesus và những con người ưu tú của các thời đại trước, mà còn được lặp lại dưới nhiều hình thức đa dạng bởi những người xuất sắc nhất của thời đại chúng ta. Nó đã và đang trở thành kim chỉ nam cho mọi nỗ lực phức tạp của nhân loại, bao gồm việc, một mặt, phá bỏ các rào cản vật chất và đạo đức ngăn cản sự hợp nhất giữa con người, và mặt khác, thiết lập các nguyên tắc chung để liên kết họ thành một tình huynh đệ toàn cầu.

Chính trên cơ sở nhận thức này, chúng ta nên đánh giá tất cả các hiện tượng của cuộc sống, bao gồm cả nghệ thuật. Chúng ta nên chọn lọc những tác phẩm nghệ thuật truyền tải cảm xúc xuất phát từ nhận thức tôn giáo này, đánh giá cao và khuyến khích những tác phẩm ấy; từ chối những gì đi ngược lại nhận thức này; và không gán cho những loại nghệ thuật khác một tầm quan trọng không thuộc về nó.

Sai lầm chính của tầng lớp thượng lưu trong thời kỳ được gọi là Phục hưng—một sai lầm mà chúng ta vẫn tiếp tục lặp lại—không phải là việc họ ngừng đánh giá cao và coi trọng nghệ thuật tôn giáo (người thời đó không thể coi trọng nghệ thuật tôn giáo vì, giống như tầng lớp thượng lưu của chúng ta ngày nay, họ không thể tin vào thứ mà số đông coi là tôn giáo). Sai lầm của họ nằm ở chỗ, thay vì nghệ thuật tôn giáo đang thiếu vắng, họ đã dựng lên một loại nghệ thuật nhỏ bé, chỉ nhằm mục đích mang lại sự thích thú. Nói cách khác, họ bắt đầu chọn lựa, đánh giá cao và khuyến khích một thứ nghệ thuật mà, trong bất kỳ trường hợp nào, cũng không đáng được coi trọng đến vậy.

Một vị Giáo phụ đã từng nói rằng điều độc ác nhất không phải là con người không biết đến Chúa, mà là họ đã thay thế Chúa bằng thứ không phải là Chúa. Nghệ thuật cũng vậy. Tai họa lớn của tầng lớp thượng lưu trong thời đại chúng ta không chỉ nằm ở việc họ thiếu một nghệ thuật tôn giáo, mà còn ở chỗ, thay vì một nghệ thuật tôn giáo cao cả, được chọn lọc từ tất cả các loại nghệ thuật khác vì sự quan trọng và giá trị đặc biệt của nó, họ lại chọn một loại nghệ thuật tầm thường nhất, và thường là có hại. Loại nghệ thuật này chỉ nhằm làm vừa lòng một số người, và bởi vậy, chính vì tính chất độc quyền của nó, nó đi ngược lại nguyên tắc Kitô giáo về sự đoàn kết toàn cầu, vốn là nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta. Thay cho nghệ thuật tôn giáo, một loại nghệ thuật rỗng tuếch và thường mang tính độc hại được dựng lên, che khuất đi nhu cầu về nghệ thuật tôn giáo thực sự, thứ cần phải hiện diện trong đời sống để cải thiện nó.

Đúng là nghệ thuật đáp ứng được yêu cầu của nhận thức tôn giáo trong thời đại chúng ta hoàn toàn khác biệt so với nghệ thuật trước đây, nhưng bất chấp sự khác biệt này, đối với một người không cố tình che giấu sự thật khỏi chính mình, vẫn rất rõ ràng và chắc chắn rằng đâu là nghệ thuật tôn giáo của thời đại chúng ta. Trước đây, khi nhận thức tôn giáo cao nhất chỉ liên kết một số người (dù họ có thể hình thành một xã hội lớn nhưng vẫn chỉ là một xã hội giữa những xã hội khác—người Do Thái, công dân Athens hay La Mã), thì những cảm xúc được truyền tải qua nghệ thuật thời đó bắt nguồn từ mong muốn về quyền lực, sự vĩ đại, danh tiếng và thịnh vượng của xã hội đó. Anh hùng trong nghệ thuật có thể là những người đóng góp vào sự thịnh vượng ấy bằng sức mạnh, sự khôn khéo, gian trá hoặc tàn nhẫn (như Ulysses, Jacob, David, Samson, Hercules, và các anh hùng khác). Nhưng nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta không chọn bất kỳ một xã hội cụ thể nào; ngược lại, nó yêu cầu sự đoàn kết của tất cả—tuyệt đối tất cả mọi người, không loại trừ ai—và đặt tình yêu thương huynh đệ với tất cả mọi người lên trên mọi đức tính khác. Vì vậy, những cảm xúc được truyền tải bởi nghệ thuật thời đại chúng ta không chỉ không thể trùng khớp với những cảm xúc mà nghệ thuật trước đây truyền tải, mà còn phải đi ngược lại chúng.

Nghệ thuật Kitô giáo, thực sự mang bản chất Kitô giáo, đã mất rất nhiều thời gian để hình thành, và đến nay vẫn chưa thực sự được thiết lập, bởi vì nhận thức tôn giáo Kitô không phải là một trong những bước tiến nhỏ mà nhân loại tiến hành đều đặn. Đó là một cuộc cách mạng to lớn, mà nếu chưa thay đổi hoàn toàn, thì chắc chắn sẽ phải thay đổi toàn bộ cách nhìn nhận cuộc sống của con người, và do đó, cả cấu trúc bên trong của đời sống họ. Đúng là cuộc sống của nhân loại, giống như cuộc sống của một cá nhân, diễn tiến một cách đều đặn. Nhưng trong sự diễn tiến đều đặn ấy, thỉnh thoảng lại xuất hiện những bước ngoặt, chia tách rõ rệt cuộc sống trước đó với cuộc sống sau này. Kitô giáo là một bước ngoặt như vậy; ít nhất, đó là cách mà nó xuất hiện với chúng ta, những người sống theo nhận thức Kitô giáo. Nhận thức Kitô đã mang lại một hướng đi mới, hoàn toàn khác cho mọi cảm xúc của con người, và do đó, thay đổi toàn diện cả nội dung lẫn ý nghĩa của nghệ thuật. Người Hy Lạp có thể sử dụng nghệ thuật của người Ba Tư, người La Mã có thể sử dụng nghệ thuật của người Hy Lạp, hoặc tương tự, người Do Thái có thể sử dụng nghệ thuật của người Ai Cập—các lý tưởng cơ bản vẫn là một. Khi thì lý tưởng là sự vĩ đại và thịnh vượng của người Ba Tư, khi thì là của người Hy Lạp, hoặc người La Mã. Nghệ thuật vẫn giữ nguyên bản chất, chỉ được chuyển đổi trong các điều kiện khác nhau để phục vụ cho các dân tộc mới. Nhưng lý tưởng Kitô giáo đã thay đổi và đảo ngược mọi thứ, như lời Kinh Thánh nói: “Những gì được tôn vinh giữa con người đã trở thành sự ghê tởm trước mắt Chúa.” Lý tưởng không còn là sự vĩ đại của Pharaoh hay một hoàng đế La Mã, không phải vẻ đẹp của một người Hy Lạp, cũng không phải sự giàu có của Phoenicia, mà là sự khiêm nhường, trong sạch, lòng trắc ẩn, và tình yêu thương. Người anh hùng không còn là người giàu có như Dives, mà là Lazarus, kẻ ăn xin; không phải là Mary Magdalene trong thời kỳ rạng rỡ nhan sắc, mà là bà trong những ngày ăn năn; không phải là những người tích lũy của cải, mà là những người từ bỏ chúng; không phải là những kẻ sống trong cung điện, mà là những người trú ẩn trong hang động và túp lều; không phải là những kẻ thống trị người khác, mà là những người chỉ công nhận quyền năng của Chúa. Và tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất không còn là một nhà thờ kỷ niệm chiến thắng với các bức tượng những kẻ chinh phục, mà là hình ảnh của một tâm hồn con người được tình yêu biến đổi đến mức người đó, dù bị tra tấn và giết hại, vẫn cảm thông và yêu thương kẻ ngược đãi mình.

Sự thay đổi này lớn đến mức những người trong thế giới Kitô giáo gặp khó khăn trong việc chống lại quán tính của nghệ thuật ngoại giáo mà họ đã quen thuộc suốt cuộc đời. Nội dung của nghệ thuật tôn giáo Kitô giáo quá mới mẻ, quá khác biệt so với nghệ thuật trước đó, đến mức họ cảm thấy như thể nghệ thuật Kitô là sự phủ nhận nghệ thuật, và họ bám víu một cách tuyệt vọng vào nghệ thuật cũ. Nhưng nghệ thuật cũ, trong thời đại của chúng ta, không còn xuất phát từ nhận thức tôn giáo nữa, nên đã mất đi ý nghĩa của nó. Dù muốn hay không, chúng ta cũng sẽ phải từ bỏ nó.

Bản chất của nhận thức Kitô giáo nằm ở sự nhận thức của mỗi con người rằng họ là con của Chúa, và do đó, sự hiệp nhất giữa con người với Chúa và với nhau, như đã nói trong Kinh Thánh (Joan 17:21). Vì vậy, nội dung của nghệ thuật Kitô giáo chính là những cảm xúc có thể gắn kết con người với Chúa và với nhau.

Cụm từ “gắn kết con người với Chúa và với nhau” có thể dường như mơ hồ đối với những người đã quen với việc sử dụng sai lệch các từ này, điều vốn rất phổ biến. Tuy nhiên, những từ này vẫn mang một ý nghĩa hoàn toàn rõ ràng. Chúng chỉ ra rằng sự hiệp nhất Kitô giáo giữa con người (trái ngược với sự hiệp nhất cục bộ, giới hạn chỉ trong một số người) là sự hiệp nhất kết nối tất cả mọi người, không trừ ai.

Nghệ thuật, mọi loại hình nghệ thuật, đều mang đặc tính này: nó kết nối con người. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đều khiến những ai cảm nhận được cảm xúc của nghệ sĩ trở nên đồng điệu trong tâm hồn, không chỉ với nghệ sĩ mà còn với tất cả những người có cùng ấn tượng. Nhưng nghệ thuật phi Kitô giáo, trong khi kết nối một số người, lại biến sự kết nối đó thành nguyên nhân chia rẽ giữa những người được kết nối với những người khác. Thậm chí, sự hiệp nhất kiểu này thường trở thành nguồn gốc của sự chia rẽ, thậm chí là thù địch đối với những người khác. Đó chính là bản chất của tất cả các loại hình nghệ thuật mang tính yêu nước, với các bài quốc ca, thơ ca, tượng đài; và của tất cả các loại hình nghệ thuật tôn giáo theo nghĩa hẹp, tức nghệ thuật của một số nghi lễ nhất định, với các hình ảnh, tượng, nghi lễ rước kiệu, và các lễ nghi địa phương khác. Những loại nghệ thuật này là nghệ thuật lạc hậu, phi Kitô giáo, chỉ kết nối những người thuộc cùng một tôn giáo, nhưng lại làm tăng sự chia rẽ với những người thuộc các tôn giáo khác, thậm chí tạo ra sự thù địch giữa họ. Nghệ thuật Kitô giáo chỉ là những tác phẩm có xu hướng kết nối tất cả mọi người mà không có ngoại lệ, bằng cách khơi gợi trong họ nhận thức rằng mỗi người và toàn thể nhân loại đều có mối quan hệ giống nhau với Chúa và với người bên cạnh mình, hoặc bằng cách khơi gợi trong họ những cảm xúc chung, dù là đơn giản nhất, miễn là chúng không đi ngược lại tinh thần Kitô giáo và tự nhiên đối với tất cả mọi người.

Nghệ thuật Kitô giáo tốt trong thời đại của chúng ta có thể khó hiểu đối với một số người do sự hạn chế về hình thức hoặc do họ không chú ý đến nó. Tuy nhiên, loại hình nghệ thuật này phải mang đến những cảm xúc mà tất cả mọi người đều có thể trải nghiệm. Đó không phải là nghệ thuật của một nhóm người, một giai cấp, một quốc gia, hay một tôn giáo cụ thể; tức là, nó không truyền tải những cảm xúc mà chỉ một người được giáo dục theo một cách cụ thể, hoặc chỉ một quý tộc, một thương nhân, một người Nga, một người Nhật Bản, một người Công giáo La Mã, hay một người theo đạo Phật mới có thể cảm nhận. Nó phải truyền tải những cảm xúc có thể chạm đến tất cả mọi người. Chỉ nghệ thuật thuộc loại này mới có thể được công nhận trong thời đại chúng ta là nghệ thuật tốt, xứng đáng được chọn lọc từ tất cả các loại hình nghệ thuật khác và được khuyến khích.

Nghệ thuật Kitô giáo, tức nghệ thuật của thời đại chúng ta, nên mang tính “công giáo” theo nghĩa nguyên bản của từ này, tức là phổ quát, và vì thế nó nên kết nối tất cả mọi người. Chỉ có hai loại cảm xúc có thể kết nối tất cả mọi người: thứ nhất, những cảm xúc bắt nguồn từ nhận thức rằng chúng ta đều là con cái của Chúa và là anh em với nhau; và thứ hai, những cảm xúc đơn giản của đời sống thường nhật, dễ tiếp cận với tất cả mọi người mà không có ngoại lệ—chẳng hạn như niềm vui, lòng trắc ẩn, sự hân hoan, sự thanh thản, v.v. Chỉ hai loại cảm xúc này mới có thể cung cấp chất liệu cho nghệ thuật có giá trị về mặt nội dung trong thời đại ngày nay.

Tác động của hai loại nghệ thuật này, dù thoạt nhìn có vẻ rất khác biệt, thực chất lại giống nhau. Những cảm xúc phát sinh từ nhận thức về mối quan hệ làm con với Chúa và tình huynh đệ giữa con người—như cảm giác vững tin vào chân lý, sự tận hiến cho ý chí của Chúa, sự hy sinh, lòng tôn trọng và tình yêu dành cho con người—được khơi dậy bởi nhận thức tôn giáo Kitô giáo; và những cảm xúc đơn giản nhất—chẳng hạn như tâm trạng mềm mại hoặc vui tươi do một bài hát, một câu chuyện hài hước dễ hiểu, một câu chuyện cảm động, một bức tranh, hay một con búp bê nhỏ mang lại: cả hai đều tạo ra cùng một hiệu quả—sự gắn kết yêu thương giữa con người với con người. Đôi khi, những người đang ở cùng nhau có thể không thù địch, nhưng cũng không đồng cảm, mà xa cách về tâm trạng và cảm xúc. Cho đến khi, có thể là một câu chuyện, một buổi biểu diễn, một bức tranh, thậm chí một tòa nhà, nhưng thường nhất là âm nhạc, đã kết nối tất cả họ lại như một tia chớp điện, và thay cho sự cô lập hay thậm chí thù địch trước đó, họ đều cảm nhận được sự gắn kết và tình yêu thương lẫn nhau. Mỗi người cảm thấy vui sướng khi người khác cũng cảm nhận được điều mình cảm nhận; vui vì sự kết nối đã được thiết lập, không chỉ giữa bản thân và tất cả những người hiện diện, mà còn với tất cả những người đang sống và sẽ chia sẻ cùng ấn tượng này. Hơn thế nữa, họ cảm nhận được niềm vui huyền bí của sự kết nối vượt qua cả cái chết, liên kết chúng ta với tất cả những con người trong quá khứ từng bị xúc động bởi những cảm xúc tương tự, và với tất cả những con người trong tương lai sẽ còn được chạm đến bởi chúng. Hiệu quả này được tạo ra cả bởi nghệ thuật tôn giáo truyền tải những cảm xúc yêu thương Chúa và yêu thương đồng loại, lẫn nghệ thuật phổ quát truyền tải những cảm xúc đơn giản nhất, chung cho mọi người.

Nghệ thuật của thời đại chúng ta cần được đánh giá khác với nghệ thuật thời trước, chủ yếu ở điểm này: nghệ thuật của thời đại chúng ta, tức nghệ thuật Kitô giáo (dựa trên một nhận thức tôn giáo yêu cầu sự gắn kết con người), loại trừ khỏi lĩnh vực nghệ thuật có nội dung tốt tất cả những gì truyền tải cảm xúc mang tính độc quyền, không gắn kết mà chia rẽ con người. Nó phân loại những tác phẩm như vậy vào nhóm nghệ thuật có nội dung xấu, trong khi đó, nó đưa vào nhóm nghệ thuật có nội dung tốt một thể loại trước đây không được coi là xứng đáng được lựa chọn và tôn trọng, cụ thể là nghệ thuật phổ quát truyền tải ngay cả những cảm xúc nhỏ nhặt và đơn giản nhất, miễn là chúng dễ tiếp cận với tất cả mọi người, không loại trừ ai, và vì thế, gắn kết họ lại với nhau. Loại nghệ thuật này trong thời đại chúng ta không thể không được coi là tốt, vì nó đạt được mục tiêu mà nhận thức tôn giáo của thời đại chúng ta, tức Kitô giáo, đặt ra trước nhân loại.

Nghệ thuật Kitô giáo hoặc khơi dậy trong con người những cảm xúc, thông qua tình yêu Chúa và tình yêu đồng loại, lôi cuốn họ vào sự gắn kết ngày càng sâu sắc hơn, làm cho họ sẵn sàng và có khả năng đạt đến sự gắn kết ấy; hoặc khơi dậy trong họ những cảm xúc cho thấy rằng họ đã được kết nối với nhau trong những niềm vui và nỗi buồn của cuộc sống. Do đó, nghệ thuật Kitô giáo của thời đại chúng ta có thể và thực sự tồn tại dưới hai dạng:

  1. Nghệ thuật truyền tải những cảm xúc bắt nguồn từ nhận thức tôn giáo về vị trí của con người trong thế giới, trong mối quan hệ với Chúa và với đồng loại—nghệ thuật tôn giáo theo nghĩa hẹp của thuật ngữ này.
  2. Nghệ thuật truyền tải những cảm xúc đơn giản nhất của đời sống thường nhật, nhưng luôn đảm bảo rằng chúng dễ dàng tiếp cận với tất cả mọi người trên khắp thế giới—nghệ thuật của đời sống thường nhật—nghệ thuật của nhân dân—nghệ thuật phổ quát.

Chỉ hai loại hình nghệ thuật này mới có thể được coi là nghệ thuật tốt trong thời đại của chúng ta.

Loại thứ nhất, nghệ thuật tôn giáo, truyền tải cả những cảm xúc tích cực như tình yêu với Chúa và với đồng loại, lẫn những cảm xúc tiêu cực như sự phẫn nộ và kinh hoàng trước sự vi phạm tình yêu, chủ yếu thể hiện qua hình thức ngôn từ, và ở mức độ nào đó qua hội họa và điêu khắc. Loại thứ hai, nghệ thuật phổ quát, truyền tải những cảm xúc dễ tiếp cận với tất cả mọi người, được thể hiện qua ngôn từ, hội họa, điêu khắc, vũ điệu, kiến trúc, và đặc biệt là âm nhạc.

Nếu tôi được yêu cầu đưa ra những ví dụ hiện đại cho từng loại nghệ thuật này, thì với loại nghệ thuật cao nhất, bắt nguồn từ tình yêu Chúa và tình yêu con người (bao gồm cả dạng tích cực ở bậc cao hơn và dạng tiêu cực ở bậc thấp hơn), trong văn học, tôi sẽ nêu tên:

  • The Robbers của Schiller,
  • Les Pauvres Gens và Les Misérables của Victor Hugo,
  • Các tiểu thuyết và truyện ngắn của Dickens như A Tale of Two Cities, A Christmas Carol, The Chimes, và những tác phẩm khác,
  • Túp liều bác Tom của Harriet Beecher Stowe,
  • Các tác phẩm của Dostoevsky, đặc biệt là Memoirs from the House of Death,
  • Adam Bede của George Eliot.

Trong hội họa hiện đại, thật kỳ lạ khi nói rằng các tác phẩm trực tiếp truyền tải cảm xúc Kitô giáo về tình yêu Chúa và tình yêu đồng loại gần như không tồn tại, đặc biệt là trong số những tác phẩm của các họa sĩ danh tiếng. Có rất nhiều bức tranh về các câu chuyện trong Phúc Âm; tuy nhiên, chúng chủ yếu tái hiện các sự kiện lịch sử với nhiều chi tiết phong phú, nhưng không và cũng không thể truyền tải cảm xúc tôn giáo mà chính các họa sĩ đó không sở hữu. Có nhiều bức tranh miêu tả cảm xúc cá nhân của các nhân vật khác nhau, nhưng những bức tranh khắc họa các hành động vĩ đại của sự hy sinh và tình yêu Kitô giáo thì rất ít, và nếu có, chúng chủ yếu do các nghệ sĩ không nổi tiếng thực hiện, phần lớn không phải là tranh hoàn chỉnh mà chỉ là các bản phác thảo. Ví dụ, có thể kể đến bản phác họa của Kramskoy (đáng giá hơn nhiều bức tranh hoàn chỉnh của ông), miêu tả một phòng khách với ban công, nơi đoàn quân diễu hành chiến thắng sau khi trở về từ chiến tranh. Trên ban công, một bảo mẫu đang bế em bé và một cậu bé đứng cạnh, cả hai đều đang ngắm nhìn đoàn diễu hành, trong khi người mẹ, che mặt bằng khăn tay, ngồi thụp xuống ghế sofa, khóc nức nở. Tương tự, là bức tranh của Walter Langley mà tôi đã nhắc đến trước đó, và cũng có thể kể đến bức tranh của họa sĩ người Pháp Morion, miêu tả một chiếc thuyền cứu hộ đang lao đi giữa cơn bão lớn để giải cứu một con tàu đang bị đắm. Những tác phẩm gần gũi với dạng này còn có các bức tranh thể hiện sự tôn trọng và tình yêu đối với những người nông dân lao động chăm chỉ. Ví dụ, các tác phẩm của Millet, đặc biệt là bản phác họa “Người đàn ông với cái cuốc” (The Man with the Hoe), hoặc các bức tranh theo phong cách này của Jules Breton, L’Hermitte, Defregger, và những họa sĩ khác. Về các bức tranh khơi gợi cảm giác phẫn nộ và kinh hoàng trước sự vi phạm tình yêu dành cho Chúa và con người, có thể kể đến bức tranh “Phán xét” (Judgment) của Gay và “Ký bản án tử hình” (Signing the Death Warrant) của Leizen-Mayer. Tuy nhiên, số lượng những tác phẩm thuộc dạng này cũng rất ít. Sự chú trọng vào kỹ thuật và vẻ đẹp của tranh thường làm lu mờ cảm xúc mà tranh muốn truyền tải. Chẳng hạn, bức Pollice Verso của Gérôme không truyền tải được sự kinh hoàng trước những gì đang diễn ra mà thay vào đó lại tập trung vào sự cuốn hút của vẻ đẹp khung cảnh.

Để đưa ra ví dụ từ nghệ thuật hiện đại của tầng lớp thượng lưu về loại nghệ thuật thứ hai, tức nghệ thuật phổ quát tốt hoặc thậm chí nghệ thuật của toàn dân, lại càng khó khăn hơn, đặc biệt là trong văn học và âm nhạc. Nếu có một số tác phẩm mà nội dung bên trong có thể được xếp vào loại này (chẳng hạn như Don Quixote, các vở hài kịch của Molière, David CopperfieldThe Pickwick Papers của Dickens, các câu chuyện của Gogol và Pushkin, hoặc một số tác phẩm của Maupassant), thì hầu hết những tác phẩm này—do tính chất đặc thù của cảm xúc mà chúng truyền tải, sự phong phú của các chi tiết mang tính địa phương và thời đại, và trên hết là sự hạn chế về chiều sâu chủ đề so với các ví dụ về nghệ thuật phổ quát cổ đại (chẳng hạn như câu chuyện về Joseph)—chỉ có thể được hiểu bởi những người trong cùng một bối cảnh xã hội. Việc các anh em của Joseph vì ghen tị với tình yêu thương của cha dành cho ông mà bán ông cho các thương nhân; vợ của Potiphar tìm cách dụ dỗ chàng trai trẻ; hay khi đạt đến vị trí cao nhất, Joseph lại thương xót anh em mình, bao gồm cả Benjamin, người được yêu quý nhất—những tình tiết này và toàn bộ câu chuyện mang những cảm xúc mà cả một người nông dân Nga, một người Trung Quốc, một người châu Phi, một đứa trẻ, hay một cụ già, dù có học thức hay không, đều có thể hiểu và cảm nhận được. Câu chuyện được viết với sự chừng mực, không có bất kỳ chi tiết thừa nào, đến mức nó có thể được kể ở bất kỳ đâu và sẽ đều dễ hiểu, dễ chạm đến cảm xúc của mọi người. Nhưng điều này không áp dụng với những cảm xúc trong Don Quixote hay của các nhân vật trong tác phẩm của Molière (dù Molière có lẽ là nghệ sĩ phổ quát nhất và xuất sắc nhất của thời hiện đại), cũng như không áp dụng với Pickwick và những người bạn của ông. Những cảm xúc này không phải là cảm xúc phổ biến cho mọi người, mà rất đặc thù. Vì vậy, để khiến cho chúng có thể dễ dàng lây lan cảm xúc, các tác giả đã bao quanh chúng bằng vô số chi tiết về thời gian và địa điểm. Chính sự phong phú của các chi tiết này làm cho các câu chuyện trở nên khó hiểu đối với những người không sống trong bối cảnh mà tác giả mô tả.

Tác giả của câu chuyện về Joseph không cần phải mô tả chi tiết, như cách các tác giả hiện đại thường làm, chiếc áo khoác đẫm máu của Joseph, nơi ở và trang phục của Jacob, tư thế và trang phục của vợ Potiphar, hay cách bà ta chỉnh lại vòng tay trên cánh tay trái rồi nói, “Hãy đến với ta,” và những chi tiết tương tự. Lý do là vì chủ đề cảm xúc trong câu chuyện này đủ mạnh để tất cả các chi tiết, ngoại trừ những chi tiết thiết yếu nhất—chẳng hạn như việc Joseph đi ra phòng khác để khóc—trở nên dư thừa và chỉ cản trở việc truyền tải cảm xúc. Vì vậy, câu chuyện này có thể tiếp cận được với tất cả mọi người, chạm đến trái tim của người thuộc mọi quốc gia và tầng lớp, trẻ hay già, và đã tồn tại đến ngày nay và có thể sẽ còn tồn tại hàng nghìn năm nữa. Nhưng nếu tước bỏ các chi tiết trong những tiểu thuyết hay nhất của thời đại chúng ta, thì sẽ còn lại gì?

Vì lý do đó, trong văn học hiện đại, gần như không thể chỉ ra được những tác phẩm hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về tính phổ quát. Những tác phẩm có tồn tại thì phần lớn bị phá hỏng bởi điều mà thường được gọi là “chủ nghĩa hiện thực,” nhưng thực ra nên gọi là “chủ nghĩa địa phương” trong nghệ thuật.

Trong âm nhạc, tình trạng tương tự cũng xảy ra, và vì những lý do giống với nghệ thuật ngôn từ. Do sự nghèo nàn về cảm xúc mà chúng chứa đựng, các giai điệu của các nhà soạn nhạc hiện đại trở nên đáng kinh ngạc vì sự trống rỗng và không có ý nghĩa. Để tăng cường ấn tượng từ những giai điệu rỗng này, các nhạc sĩ hiện đại thêm vào những biến điệu phức tạp cho mỗi giai điệu tầm thường, không chỉ theo phong cách đặc trưng của dân tộc họ mà còn của chính trường phái âm nhạc độc quyền mà họ thuộc về. Giai điệu—mọi giai điệu—vốn tự do và có thể được mọi người hiểu, nhưng một khi nó bị ràng buộc với một hình thức hòa âm cụ thể, nó sẽ không còn dễ tiếp cận nữa, ngoại trừ với những người được đào tạo để hiểu hòa âm đó. Khi đó, nó trở nên xa lạ không chỉ với những người bình thường ở các quốc gia khác mà còn với tất cả những ai không thuộc về nhóm đã quen với các hình thức hòa âm này. Kết quả là âm nhạc, giống như thi ca, rơi vào một vòng luẩn quẩn. Những giai điệu tầm thường và độc quyền, để làm cho chúng hấp dẫn hơn, lại được chất chồng thêm những phức tạp về hòa âm, nhịp điệu và dàn nhạc, và từ đó trở nên càng xa lạ hơn. Không chỉ không đạt đến tính phổ quát, chúng thậm chí còn không phải là nghệ thuật dân tộc, tức là không thể hiểu được bởi toàn bộ dân tộc mà chỉ một số ít người.

Trong âm nhạc, ngoài các bản hành khúc và điệu nhảy của nhiều nhà soạn nhạc khác nhau đáp ứng yêu cầu của nghệ thuật phổ quát, chỉ có thể chỉ ra rất ít tác phẩm thuộc loại này: bản aria nổi tiếng dành cho violin của Bach, bản Nocturne giọng Mi giáng trưởng của Chopin, và có lẽ một vài đoạn nhỏ (không phải toàn bộ tác phẩm mà chỉ là những phần) được chọn lọc từ các tác phẩm của Haydn, Mozart, Schubert, Beethoven, và Chopin.

Dù trong hội họa cũng xảy ra hiện tượng tương tự như trong thi ca và âm nhạc—các tác phẩm yếu về ý tưởng thường được bao bọc bởi những chi tiết phụ trợ liên quan đến thời gian và địa điểm, làm chúng trở nên thú vị hơn về mặt tạm thời và địa phương nhưng lại kém phổ quát hơn—tuy nhiên, trong hội họa, nhiều hơn các lĩnh vực nghệ thuật khác, có thể tìm thấy những tác phẩm đáp ứng yêu cầu của nghệ thuật Kitô giáo phổ quát; nghĩa là, có nhiều tác phẩm thể hiện những cảm xúc mà mọi người đều có thể chia sẻ.

Trong các lĩnh vực hội họa và điêu khắc, tất cả các bức tranh và tượng thuộc phong cách thể loại (genre), các hình ảnh động vật, phong cảnh, tranh biếm họa với nội dung dễ hiểu đối với mọi người, cũng như các loại trang trí khác nhau, đều mang tính phổ quát về nội dung. Các sản phẩm này trong hội họa và điêu khắc rất phong phú (ví dụ như các búp bê sứ), nhưng phần lớn những vật phẩm như vậy (chẳng hạn, các loại trang trí) hoặc không được coi là nghệ thuật, hoặc bị xem là nghệ thuật có chất lượng thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, tất cả những vật phẩm này, nếu chúng truyền tải được một cảm xúc chân thực mà nghệ sĩ đã trải nghiệm và có thể dễ dàng hiểu được bởi mọi người (dù cảm xúc đó có vẻ nhỏ nhặt với chúng ta), thì đều là những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tốt đẹp và mang tinh thần Kitô giáo.

Tôi e rằng ở đây sẽ có người phản đối rằng, khi đã phủ nhận khái niệm về cái đẹp có thể làm tiêu chuẩn cho các tác phẩm nghệ thuật, tôi lại tự mâu thuẫn khi thừa nhận các đồ trang trí là những tác phẩm nghệ thuật tốt. Lời chỉ trích này không công bằng, vì nội dung của mọi hình thức trang trí không nằm ở cái đẹp, mà ở cảm xúc (ngưỡng mộ và thích thú trước sự kết hợp của đường nét và màu sắc) mà nghệ sĩ đã trải nghiệm và truyền sang người xem. Nghệ thuật vẫn giữ nguyên bản chất của nó và phải như vậy: không gì khác ngoài sự lây nhiễm cảm xúc từ một người sang người khác hoặc nhiều người khác, thông qua những cảm xúc mà người nghệ sĩ đã trải qua. Trong số những cảm xúc đó, có cảm giác thích thú trước những gì làm hài lòng thị giác. Những vật thể làm hài lòng thị giác có thể thu hút một nhóm nhỏ hoặc đông người, hoặc có thể làm hài lòng tất cả mọi người. Và phần lớn các đồ trang trí thuộc về loại sau. Một phong cảnh mang lại một góc nhìn rất khác thường, hoặc một bức tranh thể loại với nội dung đặc biệt, có thể không làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng các đồ trang trí, từ trang trí Yakutsk đến trang trí Hy Lạp, đều dễ hiểu với tất cả mọi người và gợi lên cảm giác ngưỡng mộ tương tự ở tất cả. Do đó, loại hình nghệ thuật bị coi thường này, trong xã hội Kitô giáo, nên được đánh giá cao hơn nhiều so với những bức tranh và tác phẩm điêu khắc đặc biệt, khoa trương.

Vì vậy, chỉ có hai loại nghệ thuật Kitô giáo tốt: tất cả những nghệ thuật khác không thuộc hai phân loại này nên được thừa nhận là nghệ thuật xấu, không đáng được khuyến khích mà cần bị loại bỏ, từ chối và khinh thường, vì đây là loại nghệ thuật không kết nối mà chia rẽ con người. Trong văn học, đó là tất cả các tiểu thuyết và thơ ca truyền tải cảm xúc tôn giáo hoặc yêu nước, cũng như những cảm xúc độc quyền chỉ thuộc về tầng lớp giàu có nhàn rỗi; chẳng hạn như danh dự quý tộc, sự chán chường, u uất, bi quan, và những cảm xúc tinh tế nhưng suy đồi bắt nguồn từ tình yêu xác thịt—hoàn toàn không thể hiểu được đối với phần lớn nhân loại. Trong hội họa, tương tự, chúng ta cũng phải xếp vào loại nghệ thuật xấu tất cả các bức tranh tôn giáo, yêu nước, và những bức tranh mang tính độc quyền; tất cả các bức tranh miêu tả sự giải trí và quyến rũ của một đời sống giàu có nhàn hạ; tất cả các bức tranh được gọi là mang tính biểu tượng mà ý nghĩa của biểu tượng chỉ có thể hiểu được bởi một số người trong một nhóm nhất định; và, trên hết, là các bức tranh với nội dung gợi dục—tất cả sự khỏa thân nữ giới đáng ghê tởm đang tràn ngập trong các triển lãm và phòng trưng bày. Tương tự, loại nhạc thính phòng và nhạc opera hiện đại của chúng ta—đặc biệt là từ Beethoven (Schumann, Berlioz, Liszt, Wagner)—phần lớn thuộc về loại này, với nội dung chỉ dành để thể hiện những cảm xúc chỉ có thể tiếp cận với những người đã phát triển sự kích thích thần kinh không lành mạnh, được khơi dậy bởi loại nhạc độc quyền, nhân tạo và phức tạp này.

“Chuyện gì thế này! Bản giao hưởng số 9 không phải là một tác phẩm nghệ thuật tốt sao!” Tôi nghe những tiếng kêu đầy phẫn nộ vang lên.

Và tôi đáp lại: Chắc chắn là không. Tất cả những gì tôi viết ra đều nhằm mục đích duy nhất là tìm một tiêu chuẩn rõ ràng và hợp lý để đánh giá giá trị của các tác phẩm nghệ thuật. Và tiêu chuẩn này, phù hợp với những chỉ dẫn của lý trí và cảm giác lành mạnh, không thể chối cãi rằng bản giao hưởng đó của Beethoven không phải là một tác phẩm nghệ thuật tốt. Tất nhiên, đối với những người đã được giáo dục để tôn thờ một số tác phẩm nhất định và các tác giả của chúng, đối với những người mà gu thẩm mỹ đã bị biến chất do việc được giáo dục trong sự tôn thờ này, thì việc thừa nhận rằng một tác phẩm nổi tiếng như vậy lại tệ thật đáng kinh ngạc và kỳ lạ. Nhưng làm sao chúng ta có thể thoát khỏi những chỉ dẫn của lý trí và lẽ thường?

Bản giao hưởng số 9 của Beethoven được coi là một kiệt tác nghệ thuật. Để xác minh tuyên bố này, trước tiên tôi phải tự hỏi liệu tác phẩm này có truyền tải được cảm xúc tôn giáo cao nhất hay không? Tôi trả lời là không, vì âm nhạc tự thân nó không thể truyền tải những cảm xúc đó. Do đó, tôi hỏi tiếp, nếu tác phẩm này không thuộc loại hình nghệ thuật tôn giáo cao nhất, thì liệu nó có mang đặc điểm khác của nghệ thuật tốt trong thời đại chúng ta không—đó là khả năng kết nối mọi người trong một cảm xúc chung, xếp hạng là nghệ thuật Kitô giáo phổ quát? Và một lần nữa, tôi không có lựa chọn nào khác ngoài trả lời là không; vì tôi không thấy cảm xúc được truyền tải bởi tác phẩm này có thể kết nối con người, trừ khi họ đã được đào tạo đặc biệt để phục tùng sự mê hoặc phức tạp của nó. Tôi cũng không thể tưởng tượng nổi một đám đông bình thường nào có thể hiểu được điều gì từ tác phẩm dài dòng, lộn xộn và mang tính nhân tạo này, ngoại trừ vài đoạn ngắn bị chìm ngập trong biển cả của những gì không thể hiểu nổi. Vì vậy, dù muốn hay không, tôi buộc phải kết luận rằng tác phẩm này thuộc loại hình nghệ thuật tồi. Thật kỳ lạ khi lưu ý rằng ở phần cuối của chính bản giao hưởng này có kèm theo một bài thơ của Schiller, trong đó (dù hơi khó hiểu) thể hiện ý tưởng rằng cảm xúc (Schiller chỉ đề cập đến cảm xúc vui mừng) kết nối con người và khơi gợi tình yêu thương giữa họ. Nhưng mặc dù bài thơ này được hát ở cuối bản giao hưởng, âm nhạc lại không phù hợp với ý tưởng được bày tỏ trong những câu thơ; bởi vì âm nhạc mang tính độc quyền, không kết nối tất cả mọi người, mà chỉ kết nối một số ít, chia cách họ khỏi phần còn lại của nhân loại.

Cũng tương tự như vậy, trong tất cả các lĩnh vực nghệ thuật, nhiều tác phẩm được tầng lớp thượng lưu của xã hội chúng ta coi là vĩ đại sẽ cần phải được đánh giá lại. Theo tiêu chuẩn chắc chắn này, chúng ta sẽ phải đánh giá những tác phẩm nổi tiếng như Thần Khúc (Divine Comedy), Giải Phóng Jerusalem (Jerusalem Delivered), phần lớn các tác phẩm của Shakespeare và Goethe, và trong hội họa là tất cả các bức tranh mô tả phép lạ, bao gồm cả “Biến Hình” (Transfiguration) của Raphael, v.v.

Dù tác phẩm đó là gì và đã được ca ngợi như thế nào, trước tiên chúng ta cần đặt câu hỏi liệu tác phẩm này có thực sự là nghệ thuật hay chỉ là một sự giả tạo. Sau khi thừa nhận, dựa trên dấu hiệu lây lan cảm xúc dù chỉ trong một nhóm nhỏ người, rằng một sản phẩm nào đó thuộc về lĩnh vực nghệ thuật, thì chúng ta cần, dựa trên dấu hiệu về mức độ dễ tiếp cận của nó, quyết định câu hỏi tiếp theo: Tác phẩm này thuộc loại nghệ thuật xấu, mang tính độc quyền, đi ngược lại nhận thức tôn giáo, hay thuộc nghệ thuật Kitô giáo, thứ nghệ thuật kết nối con người? Và khi đã công nhận một tác phẩm thuộc về nghệ thuật Kitô giáo thực sự, chúng ta cần phân loại nó, tùy thuộc vào việc nó truyền tải những cảm xúc xuất phát từ tình yêu đối với Chúa và con người, hay chỉ đơn thuần là những cảm xúc đơn giản kết nối tất cả mọi người, để xếp nó vào hàng nghệ thuật tôn giáo hoặc nghệ thuật phổ quát.

Chỉ khi dựa trên sự kiểm nghiệm như vậy, chúng ta mới có thể chọn lọc từ khối lượng khổng lồ những thứ mà trong xã hội chúng ta được xem là nghệ thuật, để tìm ra những tác phẩm thực sự, quan trọng, và cần thiết như nguồn nuôi dưỡng tinh thần, và tách biệt chúng khỏi tất cả những loại nghệ thuật có hại, vô ích, và những sự giả mạo nghệ thuật đang bao quanh chúng ta. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể loại bỏ những hệ quả tai hại của nghệ thuật xấu, và tận dụng được những ảnh hưởng tốt đẹp mà nghệ thuật chân chính và tốt lành mang lại, một điều không thể thiếu đối với đời sống tinh thần của con người và nhân loại.


Khám phá thêm từ Chuyện Đọc

Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.