
Sơ lược về James Joyce
James Joyce (1882 – 1941) là một tượng đài của văn học hiện đại. Ông từng bị chỉ trích là dung tục và thiếu chín chắn, nhưng cũng được ca ngợi như một nhà nhân văn uyên bác. Một số người cho rằng văn phong của ông khó hiểu, quá chú trọng vào hình thức và các trò chơi ngôn từ, trong khi những người khác lại mô tả tác phẩm của ông là nguồn cảm hứng sống động, luôn gắn liền với nhạc điệu của ngôn ngữ. Joyce đã kết hợp lối viết dòng ý thức, kịch phi lý, sự song hành huyền thoại và nhiều kỹ thuật khác trong một tổng hòa sáng tạo, để lại dấu ấn sâu sắc không chỉ với các nhà văn hiện đại mà còn với các thế hệ tiểu thuyết gia sau này.
James Joyce sinh năm 1882 tại vùng ngoại ô Dublin, trong một gia đình Công giáo La Mã. Cha ông, John Joyce, nổi tiếng là một người nghiện rượu, ca sĩ và người kể chuyện tài ba, với cuộc sống ngày càng sa sút trong suốt thời thơ ấu của con trai. Hình mẫu của ông đã được Joyce đưa vào nhân vật Simon Dedalus trong Chân dung Người nghệ sĩ Trẻ tuổi và Ulysses. Khi còn là học sinh, Joyce học tại Clongowes Wood College và sau đó là Belvedere College, cả hai đều là trường dòng Jesuit. Năm 16 tuổi, Joyce từ bỏ đức tin Công giáo; tuy vậy, các biểu tượng, nghi lễ, lịch sử và thần học của Giáo hội vẫn trở thành nguồn cảm hứng quan trọng cho các tác phẩm văn học sau này của ông.
Từ năm 1898, James Joyce theo học tại Đại học University College Dublin, nơi ông bắt đầu thử sức với thơ trữ tình và viết một bài phê bình về vở kịch When We Dead Awaken của Henrik Ibsen, nhận được sự tán thưởng từ chính nhà viết kịch. Sau khi tốt nghiệp năm 1902, Joyce rời Dublin đến Paris để học ngành y. Tuy nhiên, ông nhanh chóng nhận ra rằng con đường này không phù hợp với mình và quyết định theo đuổi sự nghiệp văn chương. Năm 1903, Joyce trở về Dublin để thăm người mẹ đang hấp hối, nhưng ông kiên quyết không quỳ gối bên giường bà. Quyết định này đã ám ảnh và trở thành chi tiết quan trọng trong cuộc đời của nhân vật hư cấu Stephen Dedalus trong các tác phẩm sau này của ông.
Ngày 16 tháng 6 năm 1904, James Joyce có buổi hẹn hò đầu tiên với người vợ tương lai của mình, Nora Barnacle. Ngày này sau đó được ghi dấu ấn mãi mãi với tên gọi Bloomsday, bối cảnh diễn ra các sự kiện trong tác phẩm Ulysses. Không lâu sau, Joyce và Nora rời khỏi Ireland, sống tại Zurich, Trieste, Rome, và Paris. Chấp nhận cuộc sống lưu vong, Joyce không bao giờ trở lại Dublin để sinh sống nữa.
Một số tác phẩm của James Joyce
1. Người Dublin
Cuốn sách đầu tiên của James Joyce, Dubliners (1914), gồm những câu chuyện ông viết trong suốt thập kỷ trước, mang cái nhìn hiện thực về điều mà Joyce gọi là “sự tê liệt tinh thần” của Dublin. Mặc dù phần lớn tác phẩm đã được hoàn thiện vào năm 1905, nhưng hầu hết các nhà xuất bản tiềm năng đều lo sợ bị truy tố vì tội dung tục và phỉ báng, do trong sách có từ “bloody” (được coi là thô tục) và một ám chỉ không mấy thiện cảm về Vua Edward VII. Khi cuốn sách cuối cùng cũng được xuất bản, không có vụ kiện tụng nào xảy ra, nhưng đó chưa phải là lần cuối Joyce phải đối mặt với kiểm duyệt.
2. Chân dung người nghệ sĩ trẻ
Trong suốt thập kỷ chờ đợi để xuất bản cuốn Người Dublin, Joyce đã khởi bút viết một cuốn tự tuyện, sau này trở thành cuốn Chân dung người nghệ sĩ trẻ. Ezra Pound, người biết đến tác phẩm của Joyce qua William Butler Yeats, đã đứng ra hỗ trợ ông, đăng một bài thơ của Joyce trong tuyển tập Des Imagistes (1914) và sắp xếp để Portrait được xuất bản trên tạp chí The Egoist, bắt đầu từ ngày 2 tháng 2 năm 1914, đúng dịp sinh nhật lần thứ 32 của Joyce. Trong tiểu thuyết này, lối viết gián tiếp tự do của Dubliners được thay thế bằng những thử nghiệm hình thức táo bạo hơn, chẳng hạn như việc mô phỏng ngôn ngữ của một đứa trẻ trong những trang mở đầu và tái hiện cách tư duy của một trí thức trẻ đang trăn trở về nghệ thuật xuyên suốt câu chuyện.
3. Ulysses
James Joyce phải chật vật kiếm sống bằng nghề giáo viên tiếng Anh tại Trieste và chuyển đến Zurich, một vùng trung lập, sau khi chiến tranh bùng nổ. Ezra Pound và William Butler Yeats đã thuyết phục Quỹ Văn học Hoàng gia và Civil List cấp trợ cấp cho Joyce, giúp ông có điều kiện dành những năm chiến tranh để hoàn thành tác phẩm Ulysses. Tác phẩm này được đăng từng kỳ (một lần nữa nhờ sự can thiệp của Pound) trên tạp chí The Little Review từ năm 1918, cho đến khi bị kiểm duyệt ngừng xuất bản vào năm 1920. Cuốn tiểu thuyết được xuất bản dưới dạng sách bởi Sylvia Beach vào đúng sinh nhật lần thứ 40 của Joyce, ngày 2 tháng 2 năm 1922. Tuy nhiên, cuốn sách vẫn không được phép phát hành tại Anh, Ireland, và Hoa Kỳ trong hơn một thập kỷ do các lệnh kiểm duyệt kéo dài.
Tất cả những phương pháp của Joyce trong những tác phẩm trước đều trở thành dĩ vãng trước sự sắc sảo của hai tiểu thuyết cuối cùng của ông, Ulysses (1922) và Finnegans Wake (1939). T.S. Eliot viết về Ulysses như sau: “Đó là một cuốn sách mà tất chúng ta đều mang ơn và không ai trong chúng ta có thể thoát khỏi ảnh hưởng của nó.” Ulysses thường được xem là ví dụ tiêu biểu cho lối viết phương pháp dòng ý thức trong văn học hiện đại. Tuy nhiên, các chương sử dụng kỹ thuật này chỉ chiếm chưa đến một phần tư tác phẩm. Joyce còn viết các chương chế giễu sự phát triển phong cách của văn học Anh và những khuôn sáo trong các tạp chí bình dân. Trong một phần khác, ông kết hợp định dạng của sách Giáo lý Công giáo với từ vựng khoa học để đưa ra một cách lý giải rộng nhất về những sự kiện diễn ra ngày 16 tháng 6 năm 1904.
4. Finnegans Wake
Finnegans Wake, một mê cung choáng ngợp của các ám chỉ và ngôn ngữ, có thể còn táo bạo hơn nữa trong những đổi mới kỹ thuật. Joyce coi đây là kiệt tác của mình. Là một trong những kiệt tác của văn học thế kỷ 20, Finnegans Wake sở hữu những đặc điểm đã khiến Joyce trở thành một trong những nhà văn hiện đại vừa khiến người ta khó chịu vừa đáng tưởng thưởng nhất: một sự gắn bó nghiêm túc mà hài hước với thần thoại và lịch sử; sự phức tạp như mê cung và cấu trúc lặp đi lặp lại; và một cảm giác hài hước khiến người ta phải bật cười dù câu chuyện có phần khó hiểu. Tiểu thuyết được xuất bản vào tháng 5 năm 1939, ngay trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bắt đầu. Joyce qua đời hai năm sau đó, do biến chứng từ một ca phẫu thuật vết loét.
Theo Anthony Domestico và Pericles Lewis
Khám phá thêm từ Chuyện Đọc
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.



