Vì chủ đề của buổi nói chuyện hôm nay là phép ẩn dụ, tôi sẽ bắt đầu bằng một phép ẩn dụ. Phép ẩn dụ đầu tiên mà tôi muốn nhắc đến bắt nguồn từ vùng Viễn Đông, từ Trung Quốc. Nếu tôi không nhầm, người Trung Quốc gọi thế giới là “vạn vật”, hoặc — và điều này phụ thuộc vào sở thích và sức tưởng tượng của người dịch — “vạn sinh”.
Tôi cho rằng chúng ta có thể chấp nhận ước tính điệu thấp một vạn này. Chắc chắn rằng có hơn một vạn con kiến, một vạn con người, một vạn niềm hy vọng, nỗi sợ hãi, hoặc ác mộng trên thế giới. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận con số một vạn, và nếu chúng ta nghĩ rằng tất cả các phép ẩn dụ được tạo ra bằng cách liên kết hai thứ khác nhau với nhau, thì, nếu chúng ta có đủ thời gian, chúng ta có thể tính ra được một tổng số gần như là không tưởng các phép ẩn dụ khả thể. Tôi đã quên hết về đại số học, nhưng tôi nghĩ rằng số tổng phải là 10,000 nhân với 9,999, nhân với 9,998, v.v. Tất nhiên tổng số các mối liên kết khả thể không phải là vô tận, nhưng nó có thể vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta. Vậy nên, chúng ta có thể phải nghĩ đến: Tại sao các nhà thơ trên khắp thế giới, và xuyên suốt các thời đại, vẫn luôn sử dụng cùng một số ẩn dụ nhất định, trong khi vẫn còn có rất nhiều sự kết hợp khả dụng khác nữa?
Trở lại năm 1909, nhà thơ người Argentina, Lugones, đã viết rằng ông nghĩ các nhà thơ luôn sử dụng các phép ẩn dụ giống nhau, và ông sẽ thử khám phá ra các phép ẩn dụ mới cho mặt trăng. Và trên thực tế, ông ấy đã tạo ra hàng trăm phép ẩn dụ. Ông ấy cũng nói, trong lời nói đầu của một cuốn sách có tên là Lunario cảm tính(1), rằng mỗi từ là một ẩn dụ chết. Phát biểu này, tất nhiên, là một phép ẩn dụ. Tuy nhiên, tôi nghĩ tất cả chúng ta đều cảm thấy được sự khác biệt giữa ẩn dụ chết và ẩn dụ sống. Nếu chúng ta mở ra bất kỳ cuốn từ điển từ nguyên đủ tốt nào (tôi đang nghĩ đến người bạn cũ không quen biết của tôi, Tiến sĩ Skeat)(2) và nếu chúng ta tra cứu bất kỳ từ nào, chúng ta chắc chắn sẽ tìm thấy một phép ẩn dụ được giấu ở đâu đó trong này.
Ví dụ – và bạn có thể tìm thấy điều này trong những dòng đầu tiên của Beowulf – từ þreat có nghĩa là “một đám đông giận dữ”, nhưng bây giờ từ này được dùng chỉ kết quả chứ không phải chỉ nguyên nhân nữa.
(Tiếng Anh cổ – þreat: đám đông, quân đội bạo lực; lực lượng; sự ép buộc; sự áp bức; sự trừng phạt; sự trả thù; ngược đãi… – về sau trở thành thræt, thrat, threte, thret (Middle English)/ thret, threte, threit (Scots)/ threat (English) – có nghĩa là sự đe dọa, mối đe dọa – Wiktionary)
Và, chúng ta có từ “King” (Vua). “King” có gốc là từ cyning (Tiếng Anh cổ, hay còn gọi là tiếng Anglo-Saxon, được sử dụng vào đầu thời kỳ Trung Cổ) có nghĩa là “một người đàn ông đại diện cho thân tộc – cho nhân dân.” Vì vậy, về mặt từ nguyên, “king” (vua), “kinsman” (bà con) và “gentleman” (quý ông) là cùng một từ. Tuy nhiên, nếu tôi nói, “The king sat in his counting house, counting out his money,” (Nhà vua ngồi đếm tiền trong phòng tài vụ của mình,) chúng ta không nghĩ từ “king” là một phép ẩn dụ. Trong thực tế, nếu chúng ta dùng tư duy trừu tượng, chúng ta phải quên rằng các từ là phép ẩn dụ. Ví dụ, chúng ta phải quên rằng trong từ “consider” (xem xét) có một gợi ý về chiêm tinh học – “consider” ban đầu có nghĩa là “ở cùng các vì sao”, là “dự đoán lá số tử vi”.
Điều quan trọng về phép ẩn dụ, tôi nên nói, là thực tế người đọc hoặc người nghe cảm nhận nó như một phép ẩn dụ. Tôi sẽ giới hạn cuộc nói chuyện này với những ẩn dụ mà người đọc cảm thấy chúng là những ẩn dụ. Không phải những từ như “King” (vua) hay “threat” (mối đe dọa) — vì chúng ta có thể sẽ phải nói triền miên về chúng, có thể là nói đến vô tận.
Đầu tiên, tôi muốn lấy một số ví dụ hình mẫu ẩn dụ điển hình. Tôi sử dụng từ “hình mẫu” bởi vì những phép ẩn dụ mà tôi dẫn ra sẽ khá khác nhau về mặt ý tứ khi tưởng tượng, nhưng đối với các nhà tư duy logic thì chúng gần như giống nhau. Vậy chúng ta có thể coi chúng là ngang bằng nhau. Lấy ngay ví dụ xuất hiện đầu tiên trong tâm trí tôi. Hãy so sánh chất liệu, và thời kỳ nó được sử dụng của phép ẩn dụ giữa đôi mắt và ngôi sao, hoặc ngược lại giữa những vì sao và đôi mắt. Ví dụ đầu tiên tôi mà nhớ đến từ Tuyển tập Hy Lạp(3) và tôi nghĩ Plato đã viết nó. Các dòng văn (tôi không biết tiếng Hy Lạp) ít nhiều như sau: “Tôi ước gì tôi là đêm, để tôi có thể dõi theo giấc ngủ của em bằng cả nghìn đôi mắt.” Ở đây, tất nhiên, những gì chúng ta cảm nhận được là nỗi niềm âu yếm trìu mến của người tình; chúng ta cảm nhận được mong muốn có thể nhìn ngắm người yêu một cách trọn vẹn nhất của anh ấy. Chúng ta nhận thấy một đỗi dịu dàng ẩn sau những dòng văn này.
Bây giờ chúng ta hãy lấy một ví dụ khác, ít nổi tiếng hơn: “Các vì sao nhìn xuống.” Nếu chúng ta xem xét bằng tư duy logic một cách nghiêm túc, chúng ta nhìn ra cùng một phép ẩn dụ ở đây. Tuy nhiên, bằng trí tưởng tượng khác nhau của mỗi người, tác động của hình ảnh này có thể khác biệt. “Các vì sao nhìn xuống” không khiến cho chúng ta nghĩ đến sự dịu dàng; thay vào đó, nó mang đến ý tưởng về nhiều thế hệ loài người đang cắm cúi làm lụng và về hình ảnh những ngôi sao trên cao đang nhìn xuống với một vẻ thờ ơ kiêu kỳ.
Hãy để tôi lấy một ví dụ khác — một trong những khổ thơ khiến tôi ấn tượng nhất. Những dòng này xuất phát từ một bài thơ của Chesterton có tên là “Tuổi thơ thứ hai”:
Nhưng tôi sẽ không quá già cỗi để thấy một đêm tàn ác xuất hiện, Một đám mây lớn hơn cả thế giới Và một con quái vật làm bằng những con mắt.(4)
Không phải là một con quái vật đầy mắt (chúng ta biết những con quái vật đó từ sách Khải huyền của Saint John) mà là — và điều này còn kinh khủng hơn — một con quái vật được tạo thành từ những con mắt, như thể những con mắt đó chính là mô sống của nó.
Chúng ta đã xét qua ba hình ảnh mà tất cả đều có thể được truy ngược về cùng một mẫu. Nhưng điểm tôi muốn nhấn mạnh đến — và đây thực sự là một trong hai điểm quan trọng trong bài nói chuyện của tôi — là mặc dù hình mẫu về cơ bản là giống nhau, trong trường hợp đầu tiên, ví dụ tiếng Hy Lạp “Tôi ước tôi là đêm,” điều mà chúng ta cảm nhận được là sự dịu dàng của ông ấy, sự lo lắng của ông ấy; ở trường hợp thứ hai, chúng ta cảm nhận được một kiểu thờ ơ thần thánh đối với những thứ thuộc về con người; và trong trường hợp ba, đêm quen thuộc trở thành một cơn ác mộng.
Bây giờ chúng ta hãy lấy một hình mẫu khác: chúng ta hãy lấy ý tưởng về thời gian trôi – trôi như một dòng sông. Ví dụ đầu tiên đến từ một bài thơ mà Tennyson đã viết khi ông ấy, tôi nghĩ, mười ba hay mười bốn tuổi. Ông đã tiêu hủy nó; nhưng, thật may cho chúng ta, vẫn còn một dòng sót lại. Tôi nghĩ bạn sẽ tìm thấy dòng này trong tiểu sử của Tennyson do Andrew Lang viết.(5) Nó chính là: “Thời gian trôi vào giữa đêm”. Tôi nghĩ Tennyson đã lựa chọn thời điểm rất khôn ngoan. Trong đêm, mọi thứ đều im lặng, con người còn đang chìm trong giấc ngủ, nhưng thời gian vẫn trôi đi không ngừng. Đây là một ví dụ.
Ngoài ra còn có một cuốn tiểu thuyết (tôi chắc rằng bạn đang nghĩ về nó) được gọi đơn giản là Of Time and the River(6). Việc chỉ ghép hai từ lại với nhau gợi nên một ẩn dụ: thời gian và dòng sông, cả hai đều chảy mãi. Và còn có một câu nổi tiếng của nhà triết học Hy Lạp: “Không có người nào tắm hai lần vào cùng một dòng sông.”(7) Đây chính là khởi đầu cho nỗi hoảng sợ của chúng ta, bởi vì thoạt đầu chúng ta nghĩ về dòng sông đang chảy, về những giọt nước khác biệt. Và sau đó, bằng bản năng của mình, chúng ta liền dễ dàng liên tưởng ra rằng chúng ta là dòng sông, rằng chúng ta phù du như một dòng sông.
Và chúng ta cũng có được những dòng thơ của Manrique:
Nuestras vidas son los ríos que van a dar en la mar qu’es el morir. Our lives are the rivers that flow into that sea which is death. (8) Cuộc sống của chúng ta là những dòng sông chảy vào biển vào cái chết.
Lời bày tỏ này khi được dịch sang tiếng Anh lại không quá ấn tượng; tôi ước gì mình có thể nhớ được Longfellow đã dịch nó như thế nào trong cuốn “Coplas de Manrique”(9) của ông ấy. Nhưng tất nhiên (và chúng ta sẽ quay lại câu hỏi này trong một bài giảng khác) đằng sau phép ẩn dụ, chúng ta còn có âm điệu của các từ:
Nuestras vidas son los ríos
que van a dar en la mar
qu’es el morir;
allí van los señoríos
derechos a se acabar
e consumir . . .
Cuộc sống của chúng ta là những dòng sông, trôi tự do
Về vùng biển vô biên vô định ấy
Ngôi mộ im lìm;
Về nơi đó cả phô trương và tráng lệ của trần đời
Cuồn cuộn, để bị nuốt chửng và biến mất
Vào một con sóng tối tăm
Tuy nhiên, phép ẩn dụ trong tất cả các trường hợp này hoàn toàn giống nhau.
Và tới đây chúng ta sẽ tiếp tục với một phép ẩn dụ thường lặp đi lặp lại khác, thứ có thể khiến bạn bật cười: sự so sánh giữa phụ nữ với hoa, và hoa với phụ nữ. Tất nhiên, ở đây có quá nhiều ví dụ dễ hiểu. Nhưng có một ví dụ mà tôi muốn nhắc lại (có lẽ bạn không quá quen thuộc với ví dụ này) từ một kiệt tác chưa hoàn thành, Weir of Hermiston của Robert Louis Stevenson. Stevenson kể về chuyện người hùng của ông ấy đi vào một nhà thờ, ở Scotland, ở đó anh ấy nhìn thấy một cô gái – một cô gái đáng yêu, chúng ta có thể cảm nhận được điều này. Và người ta cảm thấy rằng anh ấy sẽ phải lòng cô ấy. Bởi vì anh ấy nhìn cô ấy, và sau đó anh ấy tự hỏi liệu rằng có một linh hồn bất tử trong hình dáng tuyệt đẹp đó, hay liệu cô ấy chỉ là một con vật đơn thuần nhuộm sắc hoa. Và tính thô bạo của từ “con vật” tất nhiên bị triệt tiêu hết bởi cụm từ “sắc màu của hoa”. Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ còn cần thêm bất kỳ ví dụ nào khác ở bất kỳ thời kỳ, ngôn ngữ, nền văn học nào cho hình mẫu ẩn dụ này nữa.
Bây giờ, chúng ta hãy chuyển sang một trong những mẫu ẩn dụ cơ bản khác: ẩn dụ cuộc sống là một giấc mơ — cảm giác khiến chúng ta cho rằng cuộc sống là một giấc mơ. Một ví dụ rõ ràng chợt nảy ra trong tôi: “Chúng ta là những thứ như những giấc mộng được dệt nên.”(10) Giờ đây, điều này nghe có vẻ như báng bổ — tôi yêu Shakespeare quá nhiều nên cũng không quan tâm — nhưng tôi nghĩ rằng ở đây, nếu chúng ta xem xét câu văn này (và tôi không nghĩ rằng chúng ta nên xem xét nó quá kĩ lưỡng; chúng ta nên tốt hơn hết là biết ơn Shakespeare vì món quà này và cả nhiều món quà khác của ông ấy), có một mâu thuẫn rất nhỏ giữa thực tế là cuộc sống của chúng ta là như mơ hay có yếu tố như mơ và cái tuyên bố khá bao quát “Chúng ta là những thứ như những giấc mộng được dệt nên.” Bởi vì nếu chúng ta là thực trong những giấc mơ, hoặc nếu chúng ta chỉ là những người mơ những giấc mơ, thì tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể đưa ra những tuyên bố bao quát như vậy không. Câu này của Shakespeare thuộc về triết học hoặc siêu hình học hơn là về thơ — mặc dù tất nhiên nó được nêu bật lên, nó được nâng lên thành thơ, bởi ngữ cảnh.
Một ví dụ khác về hình mẫu tương tự đến từ một nhà thơ lớn của Đức – một nhà thơ nhỏ bên cạnh Shakespeare (nhưng tôi cho rằng tất cả các nhà thơ đều là vị thành niên bên cạnh ông ấy, ngoại trừ hai hoặc ba người). Đó là một tác phẩm rất nổi tiếng của Walther von der Vogelweide. Tôi cho rằng tôi nên nói như vậy (Tôi tự hỏi tiếng Đức Trung của tôi tốt đến mức nào – mong bạn tha thứ nếu có sai sót nào): “Ist mir mîn leben getroumet, oder ist es war?” “Tôi đã mơ về cuộc đời mình hay đó là sự thật?” (11) Tôi nghĩ điều này gần giống với những gì nhà thơ đang muốn nói, bởi vì thay cho một lời khẳng định sâu sắc, chúng ta có một câu hỏi. Nhà thơ đang băn khoăn. Điều này đã xảy ra với tất cả chúng ta, nhưng chúng ta đã không nói về nó như Walther von der Vogelweide đã làm. Ông ta đang tự hỏi, “Ist mir mîn leben getroumet, oder ist es war?” và sự do dự này mang lại cho chúng ta bản chất đẹp như mơ của cuộc sống, tôi nghĩ vậy.
Tôi không nhớ liệu trong bài giảng trước của mình (vì đây là câu tôi cứ trích đi dẫn lại nhiều lần và đã trích dẫn suốt cả cuộc đời mình) tôi có trích dẫn nhà triết học Trung Quốc Trang Tử không. Ông ta mơ thấy mình là một con bướm, và khi tỉnh dậy, ông ta không biết mình là một con người đã từng mơ thấy mình là một con bướm, hay một con bướm bây giờ đang mơ mình là một con người. Tôi nghĩ ẩn dụ này là hay nhất. Đầu tiên bởi vì nó bắt đầu từ một giấc mơ, nên sau này, khi tỉnh lại, cuộc sống của ông ấy vẫn có một cái gì đó như là mơ. Và thứ hai bởi vì, với một niềm hạnh phúc gần như kỳ diệu, ông đã chọn đúng con vật. Nếu ông ấy nói, “Trang Tử có một giấc mơ rằng mình là một con hổ,” thì sẽ không có gì trong đó. Một con bướm ẩn chứa đều gì đó đủ tinh tế và phù du để gợi về những giấc mơ. Nếu chúng ta là những giấc mơ, thì cách thực sự để gợi nên điều này là với một con bướm chứ không phải một con hổ. Nếu Trang Tử có giấc mơ mình là máy đánh chữ, thì cũng chẳng có gì hay ho cả. Hoặc một con cá voi – vật này cũng không giúp ích gì cho ông ấy. Tôi nghĩ ông ấy đã chọn từ thích hợp cho những gì ông ấy đang cố gắng nói.
Chúng ta hãy thử xem một khuôn mẫu khác – một khuôn mẫu rất phổ biến liên kết ý tưởng giữa giấc ngủ và cái chết. Khuôn mẫu này cũng khá phổ biến trong lời nói hàng ngày; nhưng nếu chúng ta tìm kiếm các ví dụ, chúng ta sẽ thấy rằng chúng rất khác nhau. Tôi nghĩ là ở đâu đó trong Homer, ông ấy nói đến “giấc ngủ sắt đá của cái chết.”(12) Ở đây ông đưa ra hai ý kiến trái ngược nhau: cái chết là một loại giấc ngủ, tuy nhiên giấc ngủ đó lại được làm bằng kim loại cứng, tàn nhẫn và độc ác — sắt. Một loại giấc ngủ không gián đoạn và không thể phá vỡ. Tất nhiên, chúng ta cũng thấy ở Heine: “Der Tod daß ist die frühe Nacht.” “Chết là đêm sớm.” Và vì chúng ta ở phía bắc Boston, tôi nghĩ chúng ta phải nhớ những dòng thơ có lẽ quá nổi tiếng của Robert Frost:
Những khu rừng rất đáng yêu, thẩm tối và thẳm sâu, Nhưng tôi có những lời hứa phải giữ, Và hàng dặm phải đi trước khi tôi ngủ, Và hàng dặm phải đi trước khi tôi ngủ. (13)
Những dòng thơ này hoàn hảo đến mức chúng ta khó nghĩ ra là có chiêu trò gì ở đây. Tuy nhiên, thật không may, văn chương đều được tạo ra từ những mánh khóe, và những thủ thuật đó — về lâu dài — được phát hiện ra.
Và sau đó người đọc cảm thấy mệt mỏi với chúng. Nhưng trong trường hợp này, thủ thuật được sử dụng quá là kín đáo đến mức tôi cảm thấy thật hổ thẹn khi đã gọi đó là một trò lừa (tôi gọi như vậy chỉ vì muốn có một từ hay hơn). Bởi vì Frost đã cố gắng gài cắm điều gì đó rất táo bạo ở đây. Chúng ta có cùng một dòng lặp đi lặp lại từng từ, hai lần, nhưng ý nghĩa thì khác nhau. “Và hàng dặm phải đi trước khi tôi ngủ”: đây chỉ là vật lý – dặm là dặm trong không gian, ở New England, và “sleep” có nghĩa là “đi ngủ”. Lần thứ hai – “Và hàng dặm phải đi trước khi tôi ngủ” – theo thiên tính của mình, chúng ta cảm thấy rằng dặm ở đây không chỉ trong không gian mà còn trong thời gian, và rằng “ngủ” có nghĩa là “chết” hoặc “nghỉ ngơi”. Nếu nhà thơ dùng nhiều từ khác hơn, hẳn là đoạn thơ sẽ kém hiệu quả hơn nhiều. Bởi vì, theo tôi hiểu, bất kỳ sự gợi ý nào cũng đều hiệu quả hơn nhiều so với những điều được bày ra rõ ràng. Có lẽ tâm trí con người có xu hướng từ chối một tuyên bố. Hãy nhớ những gì Emerson đã nói: lý lẽ không thuyết phục ai cả. Chúng không thuyết phục được ai bởi vì chúng được trình bày dưới dạng lý lẽ. Sau đó, chúng ta xem xét chúng, chúng ta cân nhắc chúng, chúng ta lật lại chúng, và chúng ta quyết định chống lại chúng.
Nhưng khi một điều gì đó chỉ đơn thuần được nói ra hoặc — tốt hơn là — được gợi ý, thì tâm trí của chúng ta lại phần nào cởi mở hơn. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận nó. Tôi nhớ cách đây ba mươi năm tôi đã đọc các tác phẩm của Martin Buber — tôi nghĩ chúng là những bài thơ tuyệt vời. Sau đó, khi tôi đến Buenos Aires, tôi đọc một cuốn sách của một người bạn của tôi, Dujovne(14) và thật khiến tôi ngạc nhiên, khi các trang sách này nói với tôi rằng Martin Buber là một triết gia và tất cả triết lý của anh ấy đều nằm trong những cuốn sách thi ca mà tôi đã đọc. Có lẽ tôi đã chấp nhận những cuốn sách đó bởi vì chúng đến với tôi qua thi ca, qua gợi ý, qua giai điệu của thơ, chứ không phải là những tranh luận. Tôi nghĩ rằng đâu đó ở Walt Whitman ta cũng có thể tìm thấy ý tưởng tương tự: ý tưởng về những lý lẽ không có sức thuyết phục. Tôi nghĩ ông ấy từng nói rằng ông ấy thấy không khí ban đêm, một vài ngôi sao lớn, thuyết phục hơn nhiều so với những lập luận đơn thuần.
Chúng ta có thể nghĩ về các kiểu ẩn dụ khác. Bây giờ chúng ta hãy lấy ví dụ (ví dụ này không phổ biến như những ví dụ khác) về một trận chiến và một ngọn lửa. Trong Iliad, chúng ta thấy hình ảnh một trận chiến rực cháy như ngọn lửa. Ý tưởng này cũng xuất hiện trong đoạn hùng ca của Finnesburg.(15) Trong phân đoạn đó, chúng ta được kể về cuộc chiến của người Đan Mạch chống người Frisia, về sự lấp lánh của vũ khí, khiên và kiếm, v.v. Sau đó, nhà văn nói rằng dường như toàn bộ Finnesburg, dường như cả lâu đài Finn, đều đang bốc cháy.
Tôi cho rằng tôi đã bỏ sót một số mẫu ẩn dụ khá phổ biến. Cho đến giờ, chúng ta đã xét đến đôi mắt và ngôi sao, phụ nữ và hoa, thời gian và dòng sông, cuộc sống và giấc mơ, cái chết và giấc ngủ, lửa và những trận chiến. Nếu chúng ta có đủ thời gian và tâm thế học hỏi, chúng ta có thể tìm thấy nửa tá hình mẫu ẩn dụ khác, và có lẽ những hình mẫu đó có thể mang lại cho chúng ta hầu hết các phép ẩn dụ trong văn học.
Điều thực sự quan trọng không phải là có một vài hình mẫu, mà là những hình mẫu đó có khả năng biến đổi gần như vô tận. Người đọc quan tâm đến thơ chứ không phải lý thuyết về thơ, người ta có thể đọc, chẳng hạn như “Tôi ước mình là đêm” và sau đó là “Một con quái vật bằng mắt” hoặc “Những vì sao nhìn xuống,” mà sẽ không bao giờ dừng lại để nghĩ rằng những hình ảnh ẩn dụ này có thể được truy ngược lại từ một hình mẫu ẩn dụ duy nhất. Nếu tôi là một người dám nghĩ dám làm (nhưng tôi thì không; tôi là một người suy tư rụt rè, tôi đang dò dẫm theo đuổi con đường của mình), tất nhiên tôi có thể nói rằng chỉ có khoảng một tá hình mẫu ẩn dụ tồn tại và tất cả các phép ẩn dụ khác chỉ là các trò chơi xáo trộn tùy ý. Điều này dẫn đến tuyên bố rằng trong số “vạn vật” theo định nghĩa của Trung Quốc, chỉ có một số tá mối liên hệ cốt yếu có thể được tìm thấy. Tất nhiên, bởi vì bạn có thể tìm thấy những liên kết chỉ đơn thuần gây ra chút kinh ngạc, và chút kinh ngạc này chỉ có xảy ra trong một chớp nhoáng.
Tôi dường như đã quên một ví dụ điển hình về mối liên hệ giữa giấc mơ và cuộc sống. Nhưng tôi nghĩ bây giờ tôi có thể nhớ lại rồi: đó là thơ của nhà thơ Mỹ Cummings.
Có bốn dòng. Tôi phải xin lỗi vì dòng đầu tiên. Rõ ràng là nó được viết bởi một anh chàng trẻ tuổi, viết cho những anh chàng trẻ tuổi, và tôi không còn có thể yêu cầu gì hơn nữa — tôi đã quá già cho thể loại trò chơi này. Nhưng khổ thơ nên được trích dẫn đầy đủ. Dòng đầu tiên là: “khuôn mặt khủng khiếp của Chúa, sáng hơn một cái thìa”. Tôi khá tiếc về cái thìa, vì dĩ nhiên người ta cảm thấy rằng thoạt đầu anh ta nghĩ đến một thanh kiếm, hoặc ngọn nến, hoặc mặt trời, hoặc một cái khiên, hoặc một thứ gì đó truyền thống sáng chói; và sau đó anh ấy nói, “Không – xét cho cùng, tôi là người hiện đại, vì vậy tôi sẽ viết bài thơ với cái thìa.” Và từ đó chiếc thìa của anh ấy xuất hiện. Nhưng chúng ta có thể tha thứ cho anh ấy vì những điều ở phía sau: “khuôn mặt khủng khiếp của thần, sáng hơn một cái thìa, / thu nhặt hình ảnh của một từ chí tử”. Tôi nghĩ dòng thứ hai này tốt hơn. Và như bạn tôi, Murchison đã nói với tôi, trong một chiếc thìa, chúng ta thường thu thập được nhiều hình ảnh. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó, vì tôi đã rất ngạc nhiên khi chiếc thìa xuất hiện trong câu thơ và đã không muốn nghĩ nhiều về nó.
khuôn mặt khủng khiếp của Chúa, sáng hơn cái một thìa, thu nhặt hình ảnh của một từ chí tử, để cuộc sống của tôi (vốn như mặt trời và mặt trăng) giống với một điều gì đó đã không xảy ra.(16)
“Giống với một điều gì đó đã không xảy ra”: dòng này đơn giản một cách kỳ lạ. Tôi nghĩ nó mang lại cho chúng ta cảm giác về bản chất đẹp như mơ của cuộc sống, tốt hơn cả cách những nhà thơ nổi tiếng hơn như Shakespeare và Walther von der Vogelweide đã làm.
Tất nhiên, tôi chỉ chọn một vài ví dụ. Tôi chắc chắn rằng ký ức của bạn chứa đầy những ẩn dụ mà bạn yêu thích — những ẩn dụ mà bạn có thể hy vọng tôi sẽ dẫn ra đây. Tôi biết rằng sau bài giảng này, tôi sẽ cảm thấy hối hận khi nghĩ về những ẩn dụ đẹp đẽ mà tôi đã bỏ qua. Và tất nhiên bạn sẽ nói với tôi, trong một nhận xét ngẫu nhiên nào đó, “Nhưng tại sao ông lại bỏ qua phép ẩn dụ tuyệt vời đó chứ?” Và sau đó tôi sẽ thấy khá lúng túng và sẽ phải nói lời xin lỗi.
Nhưng bây giờ, tôi nghĩ, chúng ta có thể tiếp tục với những phép ẩn dụ dường như nằm ngoài những khuôn mẫu cũ. Và vì tôi đã nói về mặt trăng, tôi sẽ lấy một phép ẩn dụ Ba Tư mà tôi đã đọc ở đâu đó trong lịch sử văn học Ba Tư của Brown. Có thể nói là nó đến từ Farid al-Din Attar hoặc Omar Khayyám, hoặc Hafiz, (17) hoặc một nhà thơ Ba Tư vĩ đại khác. Ông ấy nói về mặt trăng, gọi nó là “tấm gương phản chiếu của thời gian”. Tôi cho rằng, theo quan điểm của thiên văn học, ý tưởng mặt trăng là một tấm gương là phản ánh đúng – nhưng điều này hoàn toàn không liên quan nếu xét theo quan điểm thi ca. Trên thực tế, mặt trăng có phải hay không phải là gương không quan trọng, vì thơ lên tiếng với trí tưởng tượng. Chúng ta hãy nhìn vào mặt trăng như một tấm gương phản chiếu thời gian. Tôi nghĩ đây là một phép ẩn dụ rất hay — thứ nhất, vì ý tưởng về một chiếc gương cho chúng ta độ sáng và sự mỏng manh của mặt trăng, và thứ hai, bởi vì ý tưởng về thời gian khiến chúng ta chợt nhớ rằng mặt trăng rất rõ ràng mà chúng ta đang nhìn thì rất cổ xưa, đầy chất thơ và thần thoại, lâu đời như thời gian.
Vì tôi đã sử dụng cụm từ “lâu đời như thời gian”, nên tôi phải trích dẫn một dòng khác — một dòng có lẽ đang sôi sục trong trí nhớ của bạn. Tôi không thể nhớ tên tác giả. Tôi thấy nó được Kipling trích dẫn trong một cuốn sách không-quá-đáng-nhớ của ông tên From Sea to Sea: “Một thành phố đỏ hồng, nửa lâu đời như thời gian.” (18) Nếu nhà thơ đã viết “Một thành phố đỏ hồng, lâu đời như Thời gian,” ông ấy sẽ như không viết gì cả. Nhưng “nửa lâu đời như thời gian” mang đến cho nó một loại chính xác kỳ diệu – cùng loại chính xác kỳ diệu ta có được bởi cụm từ tiếng Anh kỳ lạ và phổ biến, “Tôi sẽ yêu bạn mãi mãi và thêm một ngày”. “Mãi mãi” có nghĩa là “một thời gian rất dài”, nhưng nó quá trừu tượng để kích thích trí tưởng tượng.
Chúng ta tìm thấy cùng một thủ thuật (tôi xin lỗi vì đã dùng từ này) trong tên của cuốn sách nổi tiếng, Nghìn lẻ một đêm. Đối với “ngàn đêm” có nghĩa là “nhiều đêm”, thậm chí như “bốn mươi” được sử dụng để có nghĩa là “nhiều” trong thế kỷ mười bảy. Shakespeare viết: “Khi bốn mươi mùa đông sẽ vây lấy vầng trán anh,” (19) và tôi nghĩ về cách diễn đạt thông dụng trong tiếng Anh là “bốn mươi nháy mắt” nghĩa là “một giấc ngủ ngắn”. Đối với “bốn mươi” có nghĩa là “nhiều.” Và ở đây bạn có “nghìn đêm một đêm” — như “một thành phố đỏ hồng” và độ chính xác huyền ảo của “nửa lâu đời như thời gian”, tất nhiên điều này làm cho thời gian dường như dài hơn nữa.
Để xem xét các phép ẩn dụ khác nhau, bây giờ tôi sẽ quay lại — tất nhiên, bạn có thể nói — với bộ lạc Anglo-Saxon yêu thích của tôi. Tôi nhớ có một cụm kenning(20) gọi biển là “con đường cá voi”. Tôi tự hỏi liệu người Saxon vô danh, người đầu tiên đặt ra chữ kenning đó có biết nó hay đến thế nào không. Tôi tự hỏi liệu anh ta có cảm thấy (mặc dù điều này cũng không cần thiết lắm) rằng sự vĩ đại của cá voi đã gợi ra và nêu bật lên sự vĩ đại của biển cả.
Có một phép ẩn dụ khác – phép ẩn dụ của Bắc Âu, về máu. Cụm kenning phổ biến về máu là “nước của cự xà.” Trong phép ẩn dụ này, bạn có ý niệm — mà chúng ta cũng tìm thấy trong số những người Saxon — rằng một thanh kiếm về cơ bản là một ác nhân, một sinh vật thấm máu người như thể máu chỉ là nước.
Rồi chúng ta có các phép ẩn dụ về chiến trận. Một số trong đó khá sáo mòn — ví dụ, “cuộc hội họp của những người đàn ông”. Ở đây, có lẽ, là một ý định khá ổn: ý tưởng về những người đàn ông gặp nhau chỉ để giết nhau (như thể ngoài việc đó ra thì “các cuộc hội họp” không thể mục đích gì khác). Nhưng chúng ta cũng có “cuộc gặp gỡ của những thanh kiếm”, “vũ điệu của kiếm”, “cuộc đụng độ của những thiết giáp”, “cuộc đụng độ của những chiếc khiên”. Tất cả chúng có thể được tìm thấy trong “Ode” của Brunanburh. Và còn một ví dụ hay khác: þorn æneoht, “một cuộc gặp gỡ của cơn giận dữ.” Ở đây, phép ẩn dụ gây được ấn tượng có lẽ bởi vì, khi chúng ta nghĩ về sự gặp gỡ, chúng ta nghĩ về tình đồng đội, về tình bạn; và sau đó là sự tương phản, cuộc gặp của cơn giận dữ.
Nhưng những phép ẩn dụ này chẳng là gì, tôi nên nói như thế khi so với một phép ẩn dụ khác rất hay của người Bắc Âu và – kỳ lạ là – của người Ireland, về trận chiến. Họ gọi trận chiến là “lưới người”. Từ “web” (lưới, mạng lưới) ở đây thực sự tuyệt vời, vì trong ý tưởng về một mạng lưới, chúng ta có được hình mẫu của một trận chiến thời trung cổ: chúng ta có kiếm, khiên, vũ khí giao nhau. Ngoài ra, còn có một nét bút tàn nhẫn về một mạng lưới được tạo thành từ những sinh vật sống. “Một lưới người”: một mạng lưới đầy người đang chết và giết lẫn nhau.
Đột nhiên trong đầu tôi xuất hiện một phép ẩn dụ từ Góngora giống như “lưới người”. Ông ấy nói về một khách du lịch đến một “bárbara aldea” — đến một “ngôi làng man rợ”; và sau đó ngôi làng đó bện một sợi dây bằng những con chó vây quanh anh ta.
Como suele tejer Bárbara aldea Soga de perros Contra forastero. như thường lệ dệt làng man rợ dây chó chống lại kẻ lạ.
Vì vậy, kỳ lạ thay, chúng ta có cùng một hình ảnh: ý tưởng về một sợi dây hoặc tấm lưới được tạo thành từ các sinh vật sống. Tuy nhiên, ngay cả trong những trường hợp dường như là từ đồng nghĩa, vẫn có sự khác biệt khá lớn. Một sợi dây chó bằng cách nào đó cổ điển và kỳ cục, trong khi “lưới người” lại gây kinh sợ, bản thân nó toát lên sự khủng khiếp.
Cuối cùng, tôi sẽ lấy một phép ẩn dụ hoặc một phép so sánh (xét cho cùng, tôi không phải là một giáo sư và sự khác biệt hầu như không làm tôi quan tâm lắm), về Byron, mà ngày này đã bị lãng quên. Tôi đọc bài thơ khi còn là một cậu bé – tôi cho rằng tất cả các bạn đều đọc nó khi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, hai hoặc ba ngày trước, tôi mới đột nhiên phát hiện ra rằng nó có một phép ẩn dụ rất phức tạp. Tôi chưa bao giờ cho rằng Byron đặc biệt phức tạp. Tất cả các bạn đều biết những từ này: “Cô ấy bước đi trong sắc đẹp, như đêm.” (21) Dòng thơ này hoàn hảo đến mức chúng ta coi đó là điều hiển nhiên. Chúng tôi nghĩ, “Chà, chúng ta đã có thể viết điều đó, nếu chúng ta muốn.” Nhưng chỉ có Byron đã thực sự viết ra nó.
Bây giờ tôi nói đến sự phức tạp bí mật ẩn chứa bên trong dòng thơ. Tôi cho rằng bạn đã nhận ra tôi sắp tiết lộ cho bạn điều gì. (Bởi vì điều này luôn xảy ra với những điều bất ngờ, phải không? Nó xảy ra với chúng ta khi chúng ta đang đọc một cuốn tiểu thuyết trinh thám.) “Cô ấy bước đi trong sắc đẹp, như đêm.”: lúc đầu chúng ta có một người phụ nữ đáng yêu; sau đó chúng ta thấy rằng cô ấy đi trong sắc đẹp. Điều này bằng cách nào đó gợi ý đến tiếng Pháp – giống như “vous êtes en beauté”, v.v. Nhưng: “Cô ấy bước đi trong sắc đẹp, như đêm.” Trong ví dụ đầu tiên, chúng ta có một người phụ nữ đáng yêu, một quý cô đáng yêu, được ví như bóng đêm. Nhưng để hiểu được lời thoại, chúng ta phải nghĩ đến đêm cũng như một người phụ nữ; nếu không, dòng thơ trở nên vô nghĩa. Vì vậy, trong những từ rất đơn giản đó, chúng ta có một ẩn dụ kép: một người phụ nữ được ví như đêm, nhưng đêm được ví như một người phụ nữ. Tôi không biết và tôi không quan tâm liệu Byron có biết điều này hay không. Tôi nghĩ nếu ông ấy biết nó, câu thơ sẽ khó có thể hay như nó được. Có lẽ trước khi chết ông ấy đã phát hiện ra điều đó, hoặc ai đó đã chỉ ra cho ông ấy.
Bây giờ chúng ta sẽ đến với hai kết luận chính rõ ràng của bài giảng này. Điều đầu tiên, tất nhiên là mặc dù có hàng trăm và thực sự là hàng nghìn phép ẩn dụ nhưng tất cả chúng có thể được bắt nguồn chỉ từ một vài hình mẫu đơn giản. Nhưng điều này đâu gây khó dễ gì cho chúng ta, vì mỗi ẩn dụ đều khác nhau: mỗi lần một hình mẫu được sử dụng, nó lại hình thành các biến thể khác nhau. Và kết luận thứ hai là có những phép ẩn dụ — ví dụ, “lưới người” hoặc “con đường cá voi” — có thể không được truy ngược lại các hình mẫu xác định.
Vì vậy, tôi nghĩ rằng – ngay cả sau bài giảng của tôi – phép ẩn dụ vẫn rất phát triển rộng mở. Bởi vì, nếu thích, chúng ta có thể thử sức tạo nên các biến thể mới của những khuynh hướng chính. Các biến thể sẽ rất đẹp, và chỉ một số nhà phê bình như tôi mới phiền nhiễu mà nói rằng, “Chà, đó bạn lại sử dụng đôi mắt và ngôi sao và kia bạn lại sử dụng thời gian và dòng sông, lặp đi lặp lại.” Các phép ẩn dụ sẽ thắp sáng trí tưởng tượng. Nhưng trí tưởng tượng cũng có thể được trao cho chúng ta (- và tại sao chúng ta không hy vọng vào điều này?) – nó cũng có thể được trao cho chúng ta để phát minh ra những phép ẩn dụ không thuộc về hoặc chưa thuộc về các hình mẫu đã được chấp nhận từ trước.
Chú thích (từ bản tiếng Anh):
(1). Leopoldo Lugones (1874 – 1938), một nhà văn lớn của Argentina đầu thế kỷ XX, ban đầu là một người theo chủ nghĩa hiện đại. Tập ‘Cảm tình Lunario’ của ông (Sentimental Moonery) (Buenos Aires: Moen, 1909) là một tập sách đa dạng gồm thơ, truyện ngắn và kịch xoay quanh chủ đề mặt trăng; khi ra mắt, nó đã gây ra một vụ lùm xùm, vì đã vừa phá vỡ những quy ước được thiết lập của những trí thức phái hiện đại và lại vừa chế nhạo những khán giả của xu hướng này. Lugones thường được trích dẫn và bình luận trong các tác phẩm của Borges. Ví dụ, hãy xem Borges, “Leopoldo Lugones, El imperio jesuítico,” Biblioteca personal, trong Obras completas, vol. 4 (Buenos Aires: Emecé Editores, 1996), 461 – 462, nơi Lugones được mô tả là “một người có niềm tin và đam mê nguyên bản.”
(2). Borges nói đến cuốn An Etymological Dictionary of the English Language, của Đức cha Walter W. Skeat, được xuất bản lần đầu ở Oxford, England, 1879 – 1882.
(3). Ngày nay chúng ta được biết là Tuyển tập Hy Lạp bao gồm khoảng 4,500 bài thơ ngắn của khoảng 300 tác giả, đại diện cho văn học Hy Lạp từ thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên đến thế kỷ thứ mười sau Công nguyên. Chúng được lưu giữ chủ yếu trong hai bộ sưu tập trùng lặp, Tuyển tập Palatine (được biên soạn vào thế kỷ thứ mười và lấy tên từ Thư viện Palatine ở Heidelberg) và Tuyển tập Planudean (có từ thế kỷ XIV và được đặt tên theo nhà tu từ học và biên dịch viên Maximus Planudes). Tuyển tập Planudean được in lần đầu ở Florence năm 1484; Tuyển tập Palatine đã được phát hiện lại vào năm 1606.
(4). G. K. Chesterton (1874 – 1936), “A Second Childhood,” trong The Collected Poems of G. K. Chesterton (London: Cecil Palmer, 1927), 70 (khổ 5).
But I shall not grow too old to see enormous night arise,
A cloud that is larger than the world
And a monster made of eyes
(5). Andrew Lang, Alfred Tennyson, xuất bản lần thứ 2. (Edinburgh: Blackwood, 1901), 17. Lang thực sự nói rằng dòng này là từ bài thơ “The Mystic” của Tennyson, xuất bản năm 1830.
(6). Of Time and the River, của Thomas Wolfe, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1935.
(7). Heraclitus, Fragment 41, trong The Fragment of the Work of Heraclitus of Ephesus on Nature, trans. Ingram Bywater (Baltimore: N. Murray, 1889). Xem thêm Plato, Cratylus, 402a; và Aristotle, Siêu hình học, 1010a, n3.
(8). Jorge Manrique (1440–1479), “Coplas de Don Jorge Manrique por la muerte de su padre,” khổ thơ 3, dòng 25–30. Bản tái bản, xem Manrique, Poesía, ed. Jesús-Manuel Alda Tesán, ấn bản thứ 13 (Madrid: Cátedra, 1989).
(9). Bản dịch tiếng Anh của Longfellow:
Our lives are rivers, gliding free
To that unfathomed, boundless sea,
The silent grave!
Thither all earthly pomp and boast
Roll, to be swallowed up and lost
In one dark wave.
(10). Shakespeare, The Tempest, Act 4, cảnh 1, dòng 156– 158: “We are such stuff / As dreams are made on, and our little life / Is rounded with a sleep.”
(11). Walther von der Vogelweide là một nhà thơ thời trung cổ người Đức (c.1170 – c.1230), một trong mười hai “tông đồ” của những thi hào (zwöllf Schirmherrenden Meistersängers). Ba dòng đầu tiên của bài thơ “Die Elegie” (The Elegy) của ông ấy như sau:
Owêr sint verswunden
ist mir mîn leben getroumet,
daz ich ie wânde ez wære.
Trong Walther von der Vogelweide, Gedichte: Mittelhoch- deutscher Text und Übertragung, bản Peter Wapnewski (Frankfurt: Fischer, 1982), 108. Bản trích dẫn của Borges có một nửa bằng tiếng Middle High German (ngôn ngữ của miền nam nước Đức từ khoảng năm 1200 đến năm 1500), một nửa bằng tiếng Đức hiện đại.
(12). Không có tham chiếu nào đến “giấc ngủ sắt” trong số chín mươi mốt lần xuất hiện của “giấc ngủ” được liệt kê trong một chỉ mục của Homer. Borges có thể đang nghĩ đến Aeneid của Virgil, trong bản dịch của John Dryden: “Dire dreams to thee, and iron sleep, he bears” (Quyển 5, dòng 1095); “An iron sleep his stupid eyes oppress’d” (Quyển 12, dòng 467).
(13). Robert Frost, “Stopping by Woods on a Snowy Evening,” khổ thơ 4, dòng 13–16.
The woods are lovely, dark, and deep,
But I have promises to keep,
And miles to go before I sleep,
And miles to go before I sleep.
(14). Một những thành tựu của mình, León Dujovne đã dịch Sepher Ietzirah từ tiếng Do Thái sang tiếng Tây Ban Nha.
(15). Xem “Beowulf” and the Finnesburg Fragment, được dịch sang tiếng Anh hiện đại bởi John R. Clark Hall (London: Allen và Unwin, 1958).
(16). Từ Bài thơ 51 của E. E. Cummings trong tuyển tập W (ViVa), xuất bản năm 1931 (khi Cummings ba mươi bảy tuổi). Borges trích dẫn bốn dòng đầu tiên của khổ thơ thứ ba.
(17). Farid al-Din Attar (mất khoảng năm 1230) là tác giả của Mantiq al-tayr, dịch sang tiếng Anh là The Conference of the Birds, dịch bởi Afkham Darbandi và Dick Davis (Harmonds-worth: Penguin, 1984). Omar Khayyám (thế kỷ 11) là tác giả của cuốn Rubáiyát, được dịch vào năm 1895 bởi Edward FitzGerald, bản dịch này của ông sau đó đã được tái bản nhiều lần. Hafiz of Shiraz (mất 1389–1390) là tác giả của Divan, do Gertrude Lowthian Bell dịch từ tiếng Ba Tư (London: Octagon Press, 1979).
(18). Rudyard Kipling, From Sea to Sea (Garden City, N.Y: Doubleday Page, 1912), 386. Đoạn trích từ bài thơ “Petra” (1845) của Dean Burgon, gợi nhắc đến “Italy: A Farewell” (1828) của Samuel Rogers: “many a temple half as old as Time.”
(19). Shakespeare, Sonnet 2
(20). Một Kenning (số nhiều: kenningar) là một cách diễn đạt nhiều danh từ ghép được sử dụng thay cho một danh từ riêng lẻ. Kenningar phổ biến trong các câu thơ của người Đức cổ, đặc biệt là trong thơ skaldic, và thỉnh thoảng trong văn học Eddic. Borges đã thảo luận về những cụm từ như vậy trong tiểu luận của mình “Las kenningar,” một phần của La historia de la eternidad (Lịch sử của vĩnh cửu; 1936), và trong Literaturas germánicas thời trung cổ (Văn học Trung cổ Đức; 1951), viết với María Esther Vázquez. Đọc thêm về Kenning – Wikipedia.
(21). Đây là dòng đầu tiên trong bài thơ mười tám dòng của Byron “She Walks in Beauty, Like the Night”, được xuất bản lần đầu tiên trong tuyển tập Hebrew Melodies (1815) của ông, một loạt các bài hát được chuyển thể từ các giai điệu Do Thái truyền thống của nhạc sĩ Isaac Nathan.
Lời người dịch: Bài viết được trích dịch từ Tuyển tập các bài giảng của Borges tại đại học Harvard năm 1967-1968: The craft of Verse - Copyright © the President and Fellows of Harvard College. Trong quá trình dịch bài và soát lỗi, người dịch đã nỗ lực tra cứu và cố gắng chuyển nghĩa một cách sát thực nhất, nhằm giúp bạn đọc dễ dàng nắm bắt được nội dung mà tác giả muốn truyền đạt. Tuy nhiên, vì tính chất phong phú của ngôn ngữ và khả năng người dịch còn có hạn, nên bài viết có thể sẽ có những sai sót không mong muốn. Rất mong bạn đọc thông cảm và thiện chí góp ý. Mình xin chân thành cảm ơn. xD
Khám phá thêm từ Chuyện Đọc
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.



