
Triết học và văn học là hai đối thủ trên chiến trường. Triết gia nhìn xuyên thấu sự mờ đục của thế giới, loại bỏ đi phần xác của nó, giản lược sự đa dạng của vạn vật thành một mạng nhện của những mối quan hệ giữa các ý tưởng chung, và đặt ra những quy tắc mà theo đó một số lượng quân cờ hữu hạn di chuyển trên bàn cờ sẽ tạo ra một số lượng tổ hợp có thể là vô hạn. Nhà văn thì ngược lại, thay thế những quân cờ trừu tượng bằng vua và hoàng hậu, hiệp sĩ và lâu đài, tất cả đều có tên gọi, hình dáng cụ thể và một loạt các thuộc tính về hoàng tộc, ngựa hoặc nhà thờ; thay vì bàn cờ, họ trải ra những chiến trường bụi bặm rộng lớn hoặc những biển cả đầy bão tố. Vậy là ở ngay điểm này, các quy tắc của trò chơi bị đảo lộn hoàn toàn, để lộ ra một trật tự của vạn vật khác đi so với trật tự của các nhà triết học. Hay đúng hơn là, những người khám phá ra những quy tắc mới của trò chơi này, một lần nữa lại là các nhà triết học, những người vội vã trở lại để chứng minh rằng hoạt động của các nhà văn có thể được quy giản về các điều khoản của một trong những hoạt động của họ, và rằng những lâu đài và giám mục cụ thể kia không gì khác ngoài những ý tưởng chung được ngụy trang.
Và thế là cuộc tranh luận cứ tiếp diễn, với mỗi bên đều tin tưởng rằng họ đã tiến thêm một bước trong việc chinh phục chân lý, hay ít nhất là một chân lý, và đồng thời cũng nhận thức rõ rằng nguyên liệu thô tạo nên những công trình của mình cũng giống như nguyên liệu của phe đối lập: từ ngữ. Nhưng từ ngữ, giống như những tinh thể, có các khía cạnh và trục quay với các đặc tính khác nhau, và ánh sáng được khúc xạ theo cách khác nhau tùy thuộc vào cách bố trí các tinh thể từ ngữ này và cách cắt gọt và chồng chéo các bề mặt phân cực. Cuộc đụng độ giữa triết học và văn học không cần phải được giải quyết. Ngược lại, chỉ khi chúng ta coi nó là vĩnh viễn nhưng luôn đổi mới thì mới có thể đảm bảo rằng sự xơ cứng của ngôn từ sẽ không đóng thành một tấm băng bao phủ chúng ta.
Đây là một cuộc chiến mà hai bên không bao giờ được rời mắt khỏi nhau, nhưng cũng không được đến gần nhau quá. Nhà văn nào muốn cạnh tranh với triết gia bằng cách đưa các nhân vật của mình vào những luận văn rất sâu sắc thì kết quả tốt nhất là khiến cho những cơn choáng váng của tư tưởng trở nên dễ chịu, có sức thuyết phục và bình phàm, mà không hề để chúng ta hít thở bầu không khí tinh khiết của những đỉnh cao. Dù sao thì, loại nhà văn này thuộc về những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ chúng ta, thời kỳ của nhà hát lý luận của Pirandello(1) và tất cả những cuộc trò chuyện trí tuệ trong tiểu thuyết của Huxley(2); và đối với chúng ta ngày nay, ông ấy dường như chỉ còn là một hình tượng xa vời. Tiểu thuyết trí tuệ, tiểu thuyết thảo luận, đã là dĩ vãng. Bất kỳ ai ngày nay ngồi xuống để viết thêm một Magic Mountain (Núi Thần – Thomas Mann) hay một Man without Qualities (Người đàn ông không phẩm chất – Robert Musil) thì không phải là viết một cuốn tiểu thuyết, mà là một bài luận về lịch sử của tư tưởng hoặc là về xã hội học của văn hóa.
Tương tự như vậy, triết học, khi nó quá đắm chìm trong thân xác con người, quá nhạy cảm với những trải nghiệm sống động, trực tiếp, lại trở thành một thách thức kém thú vị hơn đối với văn học so với sự trừu tượng của siêu hình học hay logic thuần túy. Hiện tượng học và chủ nghĩa hiện sinh tiếp cận văn học qua những ranh giới không phải lúc nào cũng được phân định rõ ràng. Liệu nhà văn-triết gia có thể mang đến một cái nhìn triết học mới mẻ về thế giới, một cái nhìn đồng thời cũng mới mẻ cho văn học? Trong một khoảnh khắc, khi nhân vật chính của La Nausée(3) nhìn khuôn mặt mình trong gương, điều này có thể xảy ra; tuy nhiên, trong phần lớn tác phẩm của mình, nhà văn-triết gia xuất hiện như một nhà triết học có trong tay một nhà văn đa năng đến mức chiết trung. Văn học của chủ nghĩa hiện sinh đã bị gạt sang một bên vì nó đã không thành công trong việc đạt được tính chặt chẽ văn học của riêng mình. Chỉ khi nhà văn viết trước khi triết gia diễn giải anh ta thì sự chặt chẽ văn học mới có thể trở thành mẫu mực cho sự chặt chẽ triết học, ngay cả khi nhà văn và triết gia tình cờ cư ngụ trong một người. Điều này không chỉ đúng với Dostoevsky và Kafka, mà còn đúng với Camus(4) và Genet(5).
Tên tuổi của Dostoevsky và Kafka nhắc nhở chúng ta về hai ví dụ điển hình nhất mà trong đó uy quyền của nhà văn – tức là sức mạnh truyền tải một thông điệp không thể nhầm lẫn bằng cách sử dụng một ngữ điệu đặc biệt của ngôn ngữ và một sự biến dạng đặc biệt của hình tượng con người và các tình huống – trùng khớp với uy quyền của nhà tư tưởng ở cấp độ cao nhất. Điều này cũng có nghĩa là “con người Dostoevsky” và “con người Kafka” đã thay đổi hình ảnh con người, ngay cả đối với những người không có thiên hướng đặc biệt đối với triết lý ít nhiều rõ ràng đằng sau những hình tượng như vậy. Ở cấp độ uy quyền này, nhà văn thời đại chúng ta có thể được đặt ngang hàng với hai người đó là Samuel Beckett(6). Hình ảnh chúng ta có về con người ngày nay không thể không tính đến sự tuyệt đối tiêu cực của “con người Beckett”.
Chúng ta buộc phải nói rằng trò chơi dán nhãn triết học cho các nhà văn (Hemingway là gì? Một nhà hành vi học. Robbe-Grillet là gì? Một nhà triết học phân tích) là một trò tiêu khiển xã hội chỉ có thể chấp nhận được nếu nó rất dí dỏm, nhưng mà nó không phải. Đã bao nhiêu lần tên của Wittgenstein(7) được nhắc đến khi thảo luận về các nhà văn không có gì chung ngoại trừ thực tế là họ không có gì chung với Wittgenstein! Việc quyết định ai là nhà văn của chủ nghĩa thực chứng logic sẽ là một chủ đề hoàn hảo cho một hội nghị quốc tế của PEN Club. Đối với chủ nghĩa cấu trúc – sau những kết quả rực rỡ mà nó đã đạt được trong các lĩnh vực khác nhau, tốt nhất vẫn nên đợi cho đến khi nó tạo ra cả triết học và văn học của riêng mình.
Triết học và văn học thường gặp nhau trên lĩnh vực đạo đức. Hoặc đúng hơn, đạo đức luôn là lý do để triết học và văn học không nhìn thẳng vào mặt nhau, vì tin chắc rằng họ có thể dễ dàng đạt được sự đồng thuận về nhiệm vụ dạy dỗ con người sống đạo đức. Đây là số phận đáng buồn của tất cả các triết lý thực tiễn trong văn học, và trên hết là chủ nghĩa Marx: kéo theo một nền văn học giải thích và thuyết giảng, có xu hướng khiến triết lý nhìn nhận thế giới có vẻ tự nhiên và gần gũi với những cảm xúc tự phát. Và do đó, chúng ta đánh mất giá trị cách mạng thực sự của triết học, vốn nằm ở chỗ nó chứa đầy những điều khó khăn và khúc mắc, trong khả năng làm đảo lộn những quan niệm thông thường và tình cảm, và xúc phạm mọi cách suy nghĩ “tự nhiên”.
Định nghĩa “nhà văn Marxist” có lẽ chỉ áp dụng cho Brecht(8), người, trái ngược với đạo đức chính thống của chủ nghĩa cộng sản, đã không chỉ đơn thuần miêu tả chân thực những vấn đề xã hội (“chủ nghĩa hiện thực”) mà còn đi sâu vào phân tích những động cơ và cơ chế bên trong các mối quan hệ giữa người và người, sự đảo ngược các giá trị truyền thống, đồng thời đưa ra những quan điểm đối lập với các chuẩn mực đạo đức. Ngày nay, ở Đức, Ý và một phần ở Pháp, có một xu hướng trong nền văn học của “Tân tả” (những người tự xưng là Marxist nhưng lại từ chối lối giải thích “hiện thực” và giáo điều của nó) vẫn tôn vinh Brecht như một bậc thầy vì ông đã giảng dạy một cách nghịch lý và khiêu khích. Tuy nhiên, một số người khác lại cho rằng chủ nghĩa Marx chỉ đơn thuần là sự nhận thức về địa ngục trần gian mà chúng ta đang sống, và bất cứ ai cố gắng đề xuất các cách thoát khỏi địa ngục này đều đang làm suy yếu sức mạnh thiết yếu của nhận thức đó. Đối với những người này, văn học cách mạng không gì khác hơn là văn học của sự phủ định hoàn toàn.
Đồng thời, điều rõ ràng hiện nay là nếu đúng khi các nhà triết học đã diễn giải thế giới, họ phải thay đổi nó, thì cũng đúng rằng nếu họ ngừng diễn giải nó trong một giây phút, họ không thể thay đổi được gì. Chủ nghĩa giáo điều đã mất đi chỗ đứng, và kỳ vọng tìm thấy một số sự thật ẩn giấu trong các ý thức hệ đối lập hiện nay đã thống nhất các cựu giáo phái và những người theo chủ nghĩa cực đoan mới.
Từ điểm kháng cự tối đa, tình huống này tỏa ra khắp nơi. Việc văn học một lần nữa quan tâm đến triết học chỉ là dấu hiệu của chủ nghĩa chiết trung tham lam. Chúng ta thấy các nhà văn theo phong cách truyền thống lấy cảm hứng từ việc đọc những tác phẩm triết học mới nhất, mà không gây ra bất kỳ vết nứt nào trên bề mặt đơn sắc, đồng nhất của thế giới họ. Văn học triết học của thế giới có thể vừa khẳng định vừa đặt câu hỏi về những gì chúng ta đã biết, hoàn toàn độc lập với triết lý đã truyền cảm hứng cho nó. Tất cả phụ thuộc vào cách nhà văn thâm nhập vào bề mặt của sự vật. Ví dụ, Joyce đã chiếu lên một bãi biển hoang vắng tất cả những câu đố thần học và bản thể luận mà ông đã học ở trường, những điều rất xa tầm quan tâm của ông vào thời điểm viết. Tuy nhiên, mọi thứ ông chạm vào – những đôi giày cũ, trứng cá, những chiếc nồi và chảo cũ – đều được biến đổi hoàn toàn đến tận cùng bản chất của nó.
Phân tích tầng lớp của thực tại này hiện đang được thực hiện bởi các nhà văn được trang bị các công cụ văn hóa và nhận thức luận hiện đại và chính xác hơn (tôi sẽ giới hạn bản thân đề cập đến Michel Butor(9) và Uwe Johnson(10)). Và nó dẫn đến việc đặt câu hỏi không chỉ về thế giới (đó sẽ là một điều nhỏ nhặt) mà còn về chính bản chất của tác phẩm văn học. Đây là những rủi ro mà người ta phải sẵn sàng chấp nhận nếu muốn đi theo con đường này.
Thế giới văn chương ngày nay do thế hệ nhà văn trẻ thống trị mang đậm tính triết lý hơn bao giờ hết, nhưng lại thấm nhuần một triết lý nội tại trong chính hành động viết. Ở Pháp, nhóm Tel Quel, đứng đầu là Philippe Sollers(11), tập trung vào bản thể luận của ngôn ngữ, của văn bản, của “cuốn sách”, một khuynh hướng có nhà tiên tri là Mallarmé(12); ở Ý, chức năng phá hủy của văn bản dường như là trọng tâm của cuộc tìm kiếm; ở Đức, chủ đề chính là sự khó khăn trong việc viết lên sự thật. Tuy nhiên, có những đặc điểm chung chi phối tình hình chung ở các nước này. Văn học dường như thể hiện mình là một hoạt động suy đoán khắc nghiệt và không thiên vị, xa vời những thổn thức của bi kịch cũng như những tưởng tượng về hạnh phúc. Nó không gợi lên màu sắc và hình ảnh nào khác ngoài màu trắng của trang giấy và sự sắp xếp của những dòng chữ đen.
Vậy luận điểm ban đầu của tôi có còn giá trị không? Một cuộc va chạm trực diện giữa hai cách nhìn nhận thế giới dường như đã trở nên bất khả thi, vì văn học dường như đã vượt qua các vị trí của triết học và tự xây dựng cho mình trong một pháo đài triết học có thể tồn tại với khả năng tự chủ hoàn hảo.
Sự thật là nếu tôi muốn bức tranh về vạn vật của mình không chỉ có giá trị cho ngày hôm nay mà còn cho cả ngày mai, tôi phải bao gồm một yếu tố mà tôi đã bỏ qua cho đến nay. Những gì tôi đã mô tả dưới dạng một cuộc hôn nhân giường đôi phải được coi là một ménage à trois (cuộc tình tay ba): triết học, văn học và khoa học. Khoa học phải đối mặt với những vấn đề không quá khác biệt so với văn học. Nó tạo ra các mô hình của thế giới thứ ngay lập tức bị nghi ngờ, nó dao động giữa các phương pháp quy nạp và suy diễn và nó luôn phải cảnh giác để không nhầm lẫn các quy ước ngôn ngữ của chính mình với các quy luật khách quan. Chúng ta sẽ không có một nền văn hóa đủ sức đương đầu với thử thách cho đến khi chúng ta so sánh lẫn nhau các vấn đề cơ bản của khoa học, triết học và văn học, để tất cả chúng đều bị đặt câu hỏi.
Trong khi chờ đợi thời điểm đó đến, chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đắm chìm vào những ví dụ hiện có về một nền văn học mang hơi thở của triết học và khoa học nhưng đồng thời vẫn giữ khoảng cách, trong khi với một cú thổi nhẹ nhàng, nó thổi bay cả những khái niệm trừu tượng và tính cụ thể rõ ràng của hiện thực. Tôi đang nói về lĩnh vực phi thường và không thể định nghĩa của trí tưởng tượng con người đã tạo ra các tác phẩm của Lewis Carroll(13), Queneau(14) và Borges.
Nhưng trước tiên, tôi phải chỉ ra một thực tế đơn giản, mà tôi không thể đưa ra bất kỳ lời giải thích chung nào: trong khi mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo, từ Aeschylus(15) đến Dostoevsky, đã được đặt dưới lá cờ của bi kịch, thì mối quan hệ giữa văn học và triết học lần đầu tiên trở nên rõ ràng trong các vở hài kịch của Aristophanes(16), và được định hướng tiếp tục phát triển dưới lá chắn của hài kịch, sự châm biếm và tiếng cười. Không phải ngẫu nhiên mà những gì được gọi là conte philosophiques (truyện ngụ ngôn triết học) ở thế kỷ XVIII thực chất là những hành động trả thù triết học nhẹ nhàng được thực hiện bằng trí tưởng tượng văn học.
Nhưng liệu trí tưởng tượng của Voltaire(17) và Diderot(18) có được chi phối bởi một ý định giáo huấn và biện hộ rõ ràng? Liệu tác giả có biết tất cả những gì mình muốn nói ngay từ đầu không? Ông ấy có biết hay không là ông ấy nghĩ rằng mình biết? Tiếng cười của Swift(19) hay Sterne(20) đầy bóng tối. Cùng thời với truyện ngụ ngôn triết học hoặc, hơi muộn hơn, conte fantastique (truyện ngụ ngôn kỳ ảo) và tiểu thuyết Gothic đã đã khai phóng những hình ảnh ám ảnh của tiềm thức. Liệu sự phản kháng thực sự chống lại triết học có nằm ở sự mỉa mai sáng suốt, trong những đau đớn của lý trí (và chúng ta, những người Ý, ngay lập tức nghĩ đến các cuộc đối thoại của Leopardi), trong sự sáng tỏ của trí tuệ (và người Pháp ngay lập tức nghĩ đến Monsieur Teste(21)); hay nó nằm ở việc gọi hồn những bóng ma vẫn tiếp tục ám ảnh những ngôi nhà được khai sáng của chúng ta?
Cả hai truyền thống này vẫn tồn tại ở nhiều nơi cho đến ngày nay. Nhà văn triết học theo phong cách thế kỷ XVIII có sự tái sinh hưng thịnh nhất ở Đức ngày nay, với tư cách là nhà thơ (Enzensberger(22)), nhà viết kịch (Peter Weiss(23) với vở Marat/Sade của ông) hoặc tiểu thuyết gia (Günter Grass(24)). Mặt khác, văn học theo truyền thống fantastique (kỳ ảo) đã được các nhà Siêu thực khởi động lại trong cuộc đấu tranh phá bỏ ranh giới giữa cái hợp lý và cái phi lý trong văn học. Bằng công thức “hasard objectif” (ngẫu nhiên khách quan), Breton(25) đã loại bỏ tính phi lý của ngẫu nhiên. Sự liên kết giữa từ ngữ và hình ảnh đã đáp ứng một logic ẩn giấu không kém phần uy quyền so với những gì thường được gọi là “tư duy”.
Thực tế, chân trời mới này đã mở ra ngay khi một giáo sĩ và giáo sư logic và toán học bắt đầu sáng tác The Adventures of Alice (Chuyến phiêu lưu của Alice). Kể từ đó, chúng ta đã biết rằng lý trí triết học (được cho là “khi nó ngủ sẽ sinh ra những con quái vật”) có thể có những giấc mơ đẹp nhất, hoàn toàn xứng đáng với những khoảnh khắc suy ngẫm cao nhất của nó.
Kể từ Lewis Carroll, một mối quan hệ mới đã phát triển giữa triết học và văn học. Chúng ta thấy sự xuất hiện của những người say mê triết học như một chất kích thích trí tưởng tượng. Queneau, Borges, Arno Schmidt(26) – tất cả đều có mối quan hệ khác nhau với các triết lý khác nhau, và sử dụng những điều này để nuôi dưỡng những thế giới tưởng tượng và ngôn ngữ cực kỳ đa dạng. Điểm chung của họ là thói quen kín kẽ. Những cuộc đột kích triết học của họ chỉ xuất hiện qua những ám chỉ đến các văn bản vĩ đại, hình học siêu hình và uyên bác. Từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc khác, chúng ta mong đợi sự bộc lộ những bí mật của vũ trụ: một kỳ vọng luôn thất vọng, như đúng lẽ.
Gia tộc nhà văn này có đặc điểm là thói quen nuôi dưỡng những đam mê chuyên môn và học thức rắc rối nhất mà không hoàn toàn coi trọng chúng. Trên biên giới vương quốc của họ, chúng ta có thể tìm thấy những nhà văn sau: Beckett, một trường hợp độc nhất vô nhị, đến mức cái nhăn mặt đáng sợ của ông đã được cho là chứa đựng các yếu tố bi kịch và tôn giáo, dù đúng hay sai thì tôi không biết; Gadda, bị giằng xé giữa mong muốn viết một lịch sử tự nhiên của loài người mỗi khi ông ngồi xuống, và cơn thịnh nộ khiến ông nghẹn ngào mỗi khi ông làm vậy, đến nỗi ông bỏ dở giữa chừng cuốn sách của mình; và Gombrowicz(27), bị giằng xé giữa sự nhẹ nhàng như đi trên dây (như trong cuộc đấu tuyệt vời giữa một nhà tổng hợp và một nhà phân tích) và sự tập trung hoàn toàn vào Eros (Thần của tình yêu và nhục dục).
Việc gợi tình hóa văn hóa là một trò chơi giữa các dấu hiệu và ý nghĩa, giữa các huyền thoại và ý tưởng, quả thực có thể hé lộ những khu vườn khoái lạc có tầm nhìn xa trông rộng, nhưng nó phải được thực hành với sự tách biệt cao độ. Ở đây tôi có thể đề cập đến một cuốn sách được xuất bản cách đây vài tháng ở Pháp: Vendredi của Michel Tournier, một tác phẩm chuyển thể của Robinson Crusoe với nhiều tham chiếu đến “khoa học nhân văn”, trong đó Robinson thực sự làm tình với hòn đảo.
Robinson Crusoe là một tiểu thuyết triết học mà không hề hay biết, và thậm chí trước đó, Don Quixote và Hamlet – tôi không biết mức độ nhận thức về phần này của các tác giả của chúng – đã mở ra một mối quan hệ mới giữa sự nhẹ nhàng như ảo ảnh của ý tưởng và sự nặng nề của thế giới. Khi chúng ta nói về mối quan hệ giữa văn học và triết học, chúng ta không được quên rằng toàn bộ vấn đề bắt đầu từ đó.
Tạp chí Times Literary Supplement, ngày 28 tháng 9 năm 1967 (một số đặc biệt có tựa đề “Dòng chảy chéo”, bao gồm các bài báo ngắn do một số tác giả châu Âu ủy quyền).
___________
Chú thích:
(1): Luigi Pirandello (28/6/1867 – 10/12/1936) là nhà văn, nhà viết kịch Ý đoạt giải Nobel Văn học năm 1934.
(2): Aldous Leonard Huxley (26/7/1894 – 22/11/1963) là một nhà văn người Anh di cư đến Mỹ và sống ở Los Angeles cho đến cuối đời.
(3): La Nausée – Buồn Nôn là một cuốn tiểu thuyết triết học của Jean-Paul Sartre, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1938.
(4): Albert Camus (7/11/ 1913 – 4/1/1960) là một nhà văn, triết gia, nhà báo người Pháp nổi tiếng. Các tác phẩm tiêu biểu của ông bao gồm: Người xa lạ, Dịch hạch, Huyền thoại Sisyphe, Con người phản kháng, Sa đọa.
(5): Jean Genet (19/12/1910 – 15/4/1986), là một nhà văn và nhà hoạt động chính trị người Pháp sau này.
(6): Samuel Beckett (13/4/1906 – 22/12/1989) là nhà văn, nhà viết kịch, nhà biên kịch, nhà thơ và dịch giả người Ireland đoạt giải Nobel Văn học năm 1969. Ông là một nghệ sỹ tiên phong trong phong trào văn học Kịch phi lý (Theatre of the Absurd), với tác phẩm nổi tiếng nhất là vở kịch Waiting for Godot (Ngồi đợi Godot – 1953).
(7): Ludwig Wittgenstein (26/ 4/1889 – 29/4/1951) là một nhà triết học người Áo, người đã có công đóng góp quan trọng trong logic, triết học về toán, triết học tinh thần và triết học ngôn ngữ. Ông được coi là một trong những nhà triết học quan trọng nhất của thế kỷ 20.
(8): Bertolt Brecht (10/2/1898–14/8/1956) là một nhà thơ, nhà soạn kịch, và đạo diễn sân khấu người Đức.
(9): Michel Butor (14/9/1926 – 24/8/2016) là nhà thơ, tiểu thuyết gia, giáo viên, nhà tiểu luận, nhà phê bình nghệ thuật và dịch giả người Pháp.
(10): Uwe Johnson (1934–1984) là nhà văn, biên tập viên và học giả người Đức.
(11): Philippe Sollers (28 tháng 11 năm 1936 – 5 tháng 5 năm 2023) là một nhà văn và nhà phê bình người Pháp. Năm 1960, ông thành lập tạp chí văn học tiên phong Tel Quel (cùng với nhà văn và nhà phê bình nghệ thuật Marcelin Pleynet), do Le Seuil xuất bản và hoạt động cho đến năm 1982.
(12): Stéphane Mallarmé (18/3/1842 – 9/9/1898), bút danh Étienne Mallarmé, là một nhà thơ và nhà phê bình người Pháp.
(13): Charles Lutwidge Dodgson (27/1/1832 – 14/1/1898), nổi tiếng với bút danh Lewis Carroll, là một nhà văn, nhà toán học, nhà thần học, nhà logic học sâu nhà ảnh người Anh. Tác phẩm đáng chú ý nhất của ông là Cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ sở thần tiên (1865) và phần tiếp theo của nó là Through the Looking-Glass (1871).
(14): Raymond Queneau (21/2/1903 – 25/10/1976) là một tiểu thuyết gia, nhà thơ, nhà phê bình, biên tập viên, đồng sáng lập và chủ tịch của OuLiPo (Ouvroir de littérature pottielle) người Pháp, nổi tiếng với sự hóm hỉnh và hài hước châm biếm.
(15): Aeschylus (525/524 TCN – 456/455 TCN) là một nhà soạn kịch Hy Lạp cổ đại. Ông được công nhận là cha đẻ của bi kịch hiện đại và là một trong ba nhà biên soạn bi kịch cổ Hy Lạp mà có các vở kịch còn tồn tại cho đến ngày nay.
(16): Aristophanes (446 – 386 TCN), là một nhà soạn hài kịch của Hy Lạp cổ đại. Các tác phẩm của ông mang tính châm biếm, đả kích chính trị, phê bình văn học,…
(17): François-Marie Arouet (21/11/1694 – 30/5/1778), được biết đến nhiều hơn dưới bút danh Voltaire, là một nhà văn, sử gia và triết gia Pháp thời Khai sáng. Ông nổi bật về sự trào phúng và cứng rắn đả kích chế độ nô lệ, Giáo hội Công giáo và Ki-tô giáo nói chung, cũng như việc cổ súy tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và việc tách giáo hội ra khỏi nhà nước.
(18): Denis Diderot (5/10/1713 – 31/7/1784) là một triết gia, nhà phê bình nghệ thuật và nhà văn người Pháp, nổi tiếng với vai trò đồng sáng lập, tổng biên tập và người đóng góp cho Encyclopédie cùng với Jean le Rond d’Alembert. Ông là một nhân vật nổi bật trong Thời đại Khai sáng.
(19): Laurence Sterne (24 tháng 11 năm 1713 – 18 tháng 3 năm 1768) là một tiểu thuyết gia người Anh gốc Ireland và giáo sĩ Anh giáo, người đã viết các tiểu thuyết Cuộc đời và ý kiến của Tristram Shandy, Quý ông và Hành trình tình cảm xuyên Pháp và Ý, xuất bản các bài giảng và hồi ký, đồng thời đam mê chính trị địa phương.
(20): Jonathan Swift (30/11/1667 – 19/10/1745) là một nhà châm biếm, tác giả, nhà tiểu luận người Anh-Ailen. Swift được biết đến qua các tác phẩm như: Chuyện kể về một cái thùng (A Tale of a Tub) (1704), Lập luận chống lại việc xóa bỏ Cơ Đốc giáo (An Argument Against Abolishing Christianity) (1712), Những chuyến du hành của Gulliver (Gulliver’s Travels) (1726), Một đề xuất khiêm tốn (A Modest Proposal) (1729).
(21): Monsieur Teste: Một nhân vật trong tiểu thuyết của Paul Valéry, người đại diện cho trí tuệ thuần túy.
(22): Hans Magnus Enzensberger (11/11/1929 – 24/11/2022) là một tác giả, nhà thơ, dịch giả và biên tập viên người Đức. Ông cũng viết dưới các bút danh Andreas Thalmayr, Elisabeth Ambras, Linda Quilt và Giorgio Pellizzi.
(23): Peter Ulrich Weiss (8/11/1916 – 10/5/1982) là một nhà văn, họa sĩ, họa sĩ đồ họa và nhà làm phim thử nghiệm người Đức mang quốc tịch Thụy Điển. Ông đặc biệt được biết đến với các vở kịch Marat/Sade và Cuộc điều tra cũng như tiểu thuyết Tính thẩm mỹ của sự phản kháng.
(24):Günter Wilhelm Grass (16/10/1927 – 13/4/2015) là một tiểu thuyết gia, nhà thơ, nhà viết kịch, họa sĩ minh họa, họa sĩ đồ họa, nhà điêu khắc người Đức và là người nhận giải Nobel năm 1999. Grass được biết đến nhiều nhất qua cuốn tiểu thuyết đầu tiên The Tin Drum (Cái Trống Thiếc – 1959), một tác phẩm then chốt trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo châu Âu.
(25): André Robert Breton (19/2/1896 – 28/9 /1966) là nhà văn và nhà thơ người Pháp, người đồng sáng lập, lãnh đạo và nhà lý luận chính của chủ nghĩa siêu thực.
(26): Arno Schmidt (18/1/1914 – 3/6/1979) là tác giả và dịch giả người Đức. Ông ít được biết đến bên ngoài các khu vực nói tiếng Đức, một phần vì tác phẩm của ông là một thách thức ghê gớm đối với các dịch giả. Mặc dù ông không phải là một trong những nhân vật được yêu thích rộng rãi ở Đức, các nhà phê bình và nhà văn thường coi ông là một trong những nhà văn viết tiếng Đức quan trọng nhất của thế kỷ 20.
(27): Witold Marian Gombrowicz (4/8/1904 – 24/7/1969) là một nhà văn và nhà viết kịch người Ba Lan. Các tác phẩm của ông có đặc điểm là sự phân tích tâm lý sâu sắc, một cảm giác nghịch lý nhất định và mang hương vị phi dân tộc, phản dân tộc. Năm 1937, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình, Ferdydurke, trong đó trình bày nhiều chủ đề quen thuộc của ông: các vấn đề về sự non nớt và tuổi trẻ, việc tạo ra bản sắc trong các tương tác với người khác, và sự xem xét đầy phê phán, mỉa mai về vai trò giai cấp trong xã hội và văn hóa Ba Lan.
Khám phá thêm từ Chuyện Đọc
Đăng ký để nhận các bài đăng mới nhất được gửi đến email của bạn.



